A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dòng vốn sau Tết Bính Ngọ 2026: Từ “bơm thêm” sang “bơm đúng” để hiện thực hóa tăng trưởng hai con số

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, thị trường tiền tệ bước vào nhịp vận hành mới với một trạng thái khác hẳn những năm trước: thanh khoản không còn quá dồi dào, dư địa hạ lãi suất không còn rộng, trong khi mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số được đặt ra với quyết tâm cao. Vì thế không còn là “tiền rẻ hay đắt”, mà là tiền chảy về đâu và tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng.

Áp lực mới của chu kỳ tín dụng

Sang năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% – một bước “giảm tốc kỹ thuật” nhằm tái cân bằng sau năm tăng mạnh. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ: để đạt tăng trưởng GDP 10%, nền kinh tế có thể cần lượng vốn lớn hơn nhiều.

Theo tính toán của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam cần bổ sung 250-350 tỷ USD vốn đầu tư giai đoạn tới, nâng tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP lên khoảng 40%. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng – kênh cung vốn chủ lực – lại đang chịu ba sức ép đồng thời: (i) Chênh lệch tăng trưởng tín dụng – huy động nới rộng trong năm trước, làm gia tăng áp lực thanh khoản; (ii) Rủi ro nợ xấu tiềm ẩn khi nhiều doanh nghiệp vẫn chưa phục hồi hoàn toàn dòng tiền; (iii) Ràng buộc an toàn vốn (CAR, Basel II/III) khiến ngân hàng không thể mở rộng bảng cân đối vô hạn. Vì vậy, năm 2026 buộc phải là năm của chất lượng phân bổ vốn, thay vì mở rộng quy mô tín dụng bằng mọi giá.

Tháng đầu năm thường chứng kiến tăng trưởng tín dụng thấp do yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, năm nay còn có yếu tố chủ động: NHNN yêu cầu kiểm soát tăng trưởng 3 tháng đầu năm không vượt quá 25% hạn mức cả năm.

Định hướng này phù hợp với tinh thần điều hành thận trọng được nhấn mạnh trong Công điện 12/CĐ-TTg đầu tháng 2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu tín dụng phải: Hỗ trợ sản xuất – kinh doanh; Ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, nông nghiệp và kiểm soát rủi ro bất động sản và các lĩnh vực đầu cơ.

Điểm đáng chú ý là NHNN đã chuyển cách giao “room” tín dụng từ cơ chế gần như bình quân sang xếp hạng theo “sức khỏe” và mức độ tuân thủ của từng tổ chức tín dụng. Điều này tạo động lực cạnh tranh lành mạnh ngân hàng nào quản trị tốt, minh bạch và ít rủi ro sẽ được trao dư địa tăng trưởng cao hơn.

Nhìn vào cơ cấu tín dụng năm 2025, có một thực tế đáng suy nghĩ: Tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng hơn 8%; Công nghiệp – xây dựng tăng hơn 11% và thương mại, vận tải, viễn thông dưới 9%. Trong khi tổng thể tín dụng tăng gần 19%. Điều này cho thấy dòng vốn chưa chảy mạnh vào các khu vực tạo năng suất dài hạn. Tăng trưởng tín dụng cao nhưng chưa đồng nghĩa với nâng cao năng lực sản xuất.

Nếu tiếp tục cách phân bổ này, mục tiêu tăng trưởng 2 con số có thể đạt trong ngắn hạn nhưng sẽ đi kèm rủi ro “nóng hóa” tài sản và áp lực lạm phát.

Theo cảnh báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), khi tín dụng duy trì trên 13-14%/năm trong thời gian dài, lạm phát có thể chịu áp lực tăng lên vùng 4,5-5% nếu không kiểm soát tốt cung tiền và kỳ vọng thị trường.

vnd-093820.jpeg

Ba trụ cột chính sách để nâng chất lượng phân bổ vốn

Giai đoạn 2026-2030 dự kiến triển khai khoảng 8,5 triệu tỷ đồng đầu tư công, bao gồm đường sắt cao tốc, cao tốc Bắc – Nam, cảng hàng không, logistics. Đây là những dự án có vòng đời dài, rủi ro chính sách và doanh thu. Ngân hàng thương mại khó “ôm” trọn các dự án 20–30 năm vì rủi ro kỳ hạn (huy động ngắn – cho vay dài); Hạn mức an toàn vốn; Khó định lượng rủi ro pháp lý.

Do đó, nếu chỉ trông vào tín dụng ngân hàng để đạt tăng trưởng 10%, hệ thống sẽ chịu áp lực lớn về thanh khoản và nợ xấu trong tương lai. Theo GS,TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh đã chia sẻ 3 trụ cột chính sách để nâng chất lượng phân bổ vốn gồm:

Một là, tái định vị “room tín dụng” theo năng suất, thay vì phân bổ theo quy mô ngân hàng, cần bổ sung tiêu chí: Tỷ lệ cho vay vào công nghiệp chế biến, công nghệ cao; tín dụng xanh và chuyển đổi năng lượng; tỷ lệ tài trợ chuỗi cung ứng. Các ngân hàng có danh mục tín dụng hướng vào lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao nên được ưu tiên hạn mức cao hơn.

Hai là, chuyển từ “tài sản thế chấp” sang “dòng tiền và dữ liệu”. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có đơn hàng tốt nhưng thiếu tài sản bảo đảm. Nếu tiếp tục duy trì tư duy cho vay dựa nặng vào thế chấp, dòng vốn sẽ khó chảy đến khu vực năng động nhất của nền kinh tế.

Giải pháp là ứng dụng dữ liệu lớn (big data) và hóa đơn điện tử để chấm điểm tín dụng; phát triển bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro; mở rộng tín dụng chuỗi cung ứng dựa trên hợp đồng đầu ra. Đây là cách giúp tín dụng “đi sâu” thay vì chỉ “đi rộng”.

Ba là, phối hợp tiền tệ – tài khóa – thị trường vốn. Tăng trưởng hai con số đòi hỏi cấu trúc vốn đa tầng: Đầu tư công làm “mồi dẫn”; thị trường trái phiếu và quỹ đầu tư cung cấp vốn dài hạn; ngân hàng tập trung vốn lưu động và trung hạn. Nếu thị trường vốn không được củng cố, ngân hàng sẽ tiếp tục gánh vai trò cung cấp vốn dài hạn – điều vốn không phải thế mạnh cấu trúc của hệ thống này.

Kịch bản điều hành 2026: Ổn định lãi suất, linh hoạt thanh khoản

Trong bối cảnh chính sách của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) còn khó dự báo, Việt Nam không có nhiều dư địa hạ mạnh lãi suất điều hành. PGS,TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng đề xuất kịch bản hợp lý hơn là: Giữ ổn định lãi suất chính sách; linh hoạt điều tiết qua OMO, tín phiếu; tránh sốc thanh khoản làm lãi suất thị trường tăng đột biến. Trọng tâm sẽ là định hướng dòng vốn, không phải kích thích đại trà.

Thước đo thành công: Mỗi đồng vốn tạo ra bao nhiêu năng suất. Tăng trưởng 10% không chỉ là mục tiêu về tốc độ. Đó là phép thử về chất lượng điều hành. Nếu 1% GDP cần 2% tín dụng, thì bài toán không chỉ là bơm thêm tiền, mà là làm sao để 1% tín dụng tạo ra 1% GDP – thay vì 0,5% như trước đây.

Năm Bính Ngọ là năm của chuyển động mạnh. Nhưng với chính sách tiền tệ, thành công không nằm ở việc tăng tốc quá nhanh, mà ở khả năng giữ nhịp bền bỉ và phân bổ nguồn lực đúng hướng.

Khi dòng vốn được “nắn” vào sản xuất, hạ tầng, công nghệ và xuất khẩu – thay vì tài sản đầu cơ – tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ là mục tiêu chính trị, mà trở thành kết quả kinh tế thực chất. Và khi đó, tín dụng không chỉ là con số trên bảng cân đối kế toán, mà là động lực tái cấu trúc nền kinh tế trong một chu kỳ phát triển mới.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết