A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Năm bản lề 2026 và bài toán tổ chức thực hiện tăng trưởng

Sau Đại hội XIV, các định hướng chiến lược đã rõ, vấn đề then chốt của năm bản lề 2026 là tổ chức thực hiện để ổn định vĩ mô, tạo động lực tăng trưởng mới.

Năm bản lề 2026 và bài toán tổ chức thực hiện tăng trưởng

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường khuyến nghị nhiều giải pháp để giữ nhịp tăng trưởng cho năm bản lề 2026. Ảnh: Phạm Đông

Năm 2026 là năm bản lề sau Đại hội XIV của Đảng, những định hướng chiến lược lớn đã được xác lập. Vấn đề đặt ra lúc này là tổ chức thực hiện như thế nào để nền kinh tế vừa giữ được sự ổn định cần thiết, vừa tạo được động lực tăng trưởng mới, thực chất và bền vững.

Bước sang năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước một bối cảnh khác biệt đáng kể so với năm 2025. Tăng trưởng của năm trước đạt mức cao, tạo nền so sánh lớn; trong khi môi trường quốc tế tiếp tục biến động. Trong bối cảnh đó, kỳ vọng tăng trưởng cao hơn đặt ra áp lực lớn đối với điều hành vĩ mô, cải cách thể chế và huy động nguồn lực.

Trong bối cảnh đó, sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, giữa Trung ương và địa phương, sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng và mức độ an toàn của nền kinh tế trong năm 2026.

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường (Đoàn Hà Nội) cho rằng mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức. Do đó, ông cho rằng cải cách thể chế vẫn là nhiệm vụ then chốt, nhưng cần đi vào chiều sâu. Việc cắt giảm thủ tục hành chính là cần thiết song chưa đủ để tạo ra thay đổi căn bản.

Quan trọng hơn là chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như an ninh - quốc phòng và sức khỏe cộng đồng.

Một hướng đi quan trọng khác là đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP), không chỉ trong đầu tư hạ tầng mà cả trong lĩnh vực quản lý và nghiên cứu - phát triển.

Vị đại biểu đoàn Hà Nội dẫn ví dụ việc xây dựng mô hình trung tâm giao dịch bất động sản do Nhà nước quản lý, thay vì Nhà nước trực tiếp tổ chức và vận hành bộ máy, có thể áp dụng mô hình hợp tác công - tư với các tổ chức, doanh nghiệp đã có năng lực, cơ sở vật chất và kinh nghiệm dịch vụ, dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Cách làm này vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa tránh phình to bộ máy hành chính.

Hợp tác công - tư trong nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ cũng cần được thúc đẩy mạnh mẽ. Các cơ sở nghiên cứu phải gắn chặt với doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ, hình thành cơ chế đồng hành từ nghiên cứu đến ứng dụng.

Điều này không chỉ giúp tháo gỡ điểm nghẽn trong giải ngân vốn khoa học - công nghệ, mà còn bảo đảm nghiên cứu tạo ra sản phẩm, giá trị thực chất cho phát triển.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu. Ảnh: Vũ Linh
TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu. Ảnh: Vũ Linh

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu - nhấn mạnh, khơi thông thể chế phải đi đôi với khơi thông dòng vốn.

Ông cho rằng các quy định hiện hành về tài sản thế chấp và xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp cần được linh hoạt hóa dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế để vốn thực sự chảy vào khu vực sản xuất. Khi thể chế minh bạch, rủi ro pháp lý giảm xuống, lãi suất cho vay sẽ có dư địa giảm theo, giúp doanh nghiệp bớt gánh nặng chi phí tài chính.

Phân tích sâu hơn về động lực tăng trưởng, TS. Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ - cho rằng, 3 yếu tố rất quan trọng quyết định tăng trưởng kinh tế là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ.

TS. Lê Xuân Nghĩa đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đầu tư nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như năng lượng. Theo ông, với quy mô đầu tư năng lượng rất lớn, nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước thì sẽ khó đáp ứng và việc huy động vốn đầu tư nước ngoài là tất yếu.

TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh ba hướng cần được đặc biệt thúc đẩy. Thứ nhất là mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Thứ hai là đầu tư cho năng lượng, đặc biệt là huy động nguồn lực nước ngoài.

Thứ ba là mở rộng các khu thương mại tự do như một công cụ thu hút FDI và thúc đẩy nội địa hóa công nghệ thông qua chuyển giao khoa học - công nghệ từ nước ngoài.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết