![]() |
| Công tác trả nợ của Chính phủ được thực hiện kịp thời, đầy đủ, theo cam kết và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ảnh Tuấn Thủy. |
Chủ động điều hành, bảo đảm an toàn nợ công
Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số đã đặt công tác quản lý nợ công trong một mối quan hệ rộng hơn với yêu cầu phát triển.
Theo đó, Trung ương yêu cầu triển khai hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro, nâng cao minh bạch trong huy động, sử dụng và báo cáo thông tin nợ công, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đáng chú ý, định hướng quản lý vay, trả nợ công được đặt theo hướng chủ động và linh hoạt hơn. Việc vay vốn cần được điều hành linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ. Mục tiêu không chỉ đáp ứng nhu cầu huy động vốn của ngân sách nhà nước, mà còn góp phần giảm chi phí, giảm áp lực huy động, chủ động dự phòng trong những thời điểm thị trường không thuận lợi, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.
Thực hiện định hướng của Trung ương, thời gian qua, Bộ Tài chính đã triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ quốc gia, đồng thời quản lý, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài và viện trợ phục vụ đầu tư phát triển.
Đến ngày 28/6/2026, tổng vay trong nước và nước ngoài của Chính phủ đạt khoảng 454,7 nghìn tỷ đồng, bằng 46,9% kế hoạch, trong đó vay cho ngân sách trung ương khoảng 451,4 nghìn tỷ đồng và vay về cho vay lại khoảng 3,3 nghìn tỷ đồng, góp phần bảo đảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và ổn định tài chính quốc gia.
Theo Bộ Tài chính, công tác trả nợ của Chính phủ được thực hiện kịp thời, đầy đủ, theo cam kết và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Dư địa nợ công tạo thêm “bộ đệm” cho tăng trưởng
Theo thông tin được công bố, nợ công năm 2025 khoảng 35% GDP, giảm đáng kể so với mức 44,3% GDP năm 2020 và thấp hơn nhiều so với trần 60% GDP theo quy định. Các chỉ tiêu về nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ cũng nằm trong giới hạn an toàn.
Kế hoạch năm 2026 tiếp tục cho thấy các chỉ tiêu nợ được kiểm soát trong ngưỡng an toàn. Nợ công dự kiến khoảng 35-36% GDP, nợ Chính phủ khoảng 33-34% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 28-29% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 20-21% thu ngân sách nhà nước, thấp hơn giới hạn 25%.
Những con số này có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn cần huy động nguồn lực lớn hơn để thực hiện các mục tiêu phát triển. Khi tỷ lệ nợ công còn cách khá xa giới hạn an toàn, Nhà nước có thêm dư địa để sử dụng chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng khi cần thiết.
Từ góc độ phân tích độc lập, ông Lê Tự Quốc Hưng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, cho rằng GDP Việt Nam duy trì tăng trưởng cao giúp cải thiện tỷ lệ nợ công so với GDP. Khi tốc độ tăng nợ công thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ nợ công/GDP có xu hướng giảm dần.
Theo ông Lê Tự Quốc Hưng, việc Chính phủ kiểm soát chi tiêu hiệu quả, giữ bội chi ngân sách ở mức hợp lý cùng với tỷ lệ nợ công thấp tạo thêm không gian để thực hiện các chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.
Như vậy, dư địa nợ công không chỉ là một con số trên bảng cân đối tài khóa. Trong điều kiện phù hợp, đó chính là một “bộ đệm” giúp Chính phủ có thêm khả năng ứng phó với các cú sốc và huy động nguồn lực cho những ưu tiên phát triển.
Đặt trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế có thể biến động theo lãi suất, tỷ giá và các yếu tố địa chính trị, việc chủ động thời điểm huy động vốn ngày càng có ý nghĩa. Vay đúng thời điểm có thể giúp giảm chi phí vốn; cơ cấu kỳ hạn hợp lý giúp hạn chế áp lực đáo hạn tập trung và giảm rủi ro phải huy động mới để trả các khoản nợ đến hạn trong điều kiện thị trường bất lợi.
Đó cũng là lý do Kết luận 18-KL/TW đặt quản lý nợ công trong mối quan hệ chặt chẽ với quản lý ngân quỹ và thanh khoản thị trường trái phiếu Chính phủ. Quản lý nợ vì thế không chỉ là câu chuyện “vay được bao nhiêu”, mà còn là lựa chọn cách thức huy động phù hợp nhất với trạng thái ngân sách và thị trường ở từng thời điểm.



