A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Trong đó, Nghị định quy định cụ thể điều kiện, phương thức và mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với các dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị.

Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035
Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

Quy định cụ thể điều kiện lựa chọn dự án liên kết theo chuỗi giá trị

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cơ chế phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị được quy định tại Điều 32.

Theo đó, dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị là dự án do chủ trì liên kết thực hiện trên cơ sở hợp tác với các đối tượng liên kết trong những khâu, giai đoạn khác nhau của chuỗi giá trị thông qua hợp đồng liên kết, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo đảm đầu ra cho hàng hóa, dịch vụ.

Nghị định quy định rõ các điều kiện lựa chọn dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị. Trước hết, dự án phải xác định được kết quả về chỉ số tạo việc làm, mức tăng thu nhập và đóng góp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương theo kế hoạch hằng năm và thời điểm kết thúc dự án.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP gồm 7 chương, 54 điều, quy định chi tiết nội dung, cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình).

Các quy định tập trung vào 5 nhóm nội dung chính, gồm: mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện, nguồn lực và nội dung của Chương trình; huy động, lồng ghép, phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực; cơ chế đặc thù thực hiện Chương trình; tiêu chí đánh giá kết quả, theo dõi, kiểm tra, giám sát và xây dựng cơ sở dữ liệu; mô hình quản lý và trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương trình.

Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị; các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập; cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia quản lý, tổ chức thực hiện hoặc thụ hưởng chính sách thuộc Chương trình.

Đồng thời, chủ trì liên kết và các đối tượng liên kết phải có hợp đồng hoặc biên bản hợp tác về đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, thu mua và tiêu thụ sản phẩm.

Dự án cũng phải bảo đảm điều kiện kỹ thuật đối với từng loại hình phát triển sản xuất theo quy định chuyên ngành của từng ngành nghề, lĩnh vực quản lý; bảo đảm tỷ lệ tham gia của người dân thuộc đối tượng hỗ trợ của Chương trình theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị định.

Ngoài các điều kiện nêu trên, dự án phải đáp ứng những điều kiện khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Về phương thức hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, Nghị định quy định 3 phương thức.

Thứ nhất, hỗ trợ bằng hiện vật, cung ứng dịch vụ cho chủ trì liên kết và các bên liên kết thông qua chủ trì liên kết. Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Nghị định.

Thứ hai, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho chủ trì liên kết để tự triển khai các hoạt động của dự án theo quyết định phê duyệt. Cơ quan quản lý dự án thực hiện thanh toán kinh phí hỗ trợ cho chủ trì liên kết theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định.

Thứ ba, áp dụng phương thức kết hợp giữa hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và hỗ trợ bằng hiện vật, cung ứng dịch vụ.

Đối với nội dung và mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, Nghị định quy định nội dung hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị được thực hiện theo các Điều 8 và 12 của Nghị định.

Mức hỗ trợ tối đa đối với một dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị và định mức hỗ trợ cho từng đối tượng tham gia thực hiện do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.

Trên cơ sở đó, cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án quyết định mức hỗ trợ cụ thể từ ngân sách nhà nước đối với từng dự án, nhưng không được vượt quá mức hỗ trợ tối đa đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Hồ sơ đề nghị hỗ trợ được tiếp nhận trực tiếp hoặc trực tuyến

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định cụ thể thành phần hồ sơ đề nghị thực hiện dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị.

Theo đó, hồ sơ đề nghị dự án liên kết bao gồm đơn đề nghị theo Mẫu số 01, nội dung dự án theo Mẫu số 02 và bản thỏa thuận cử đơn vị làm chủ trì liên kết theo Mẫu số 03 tại Phụ lục XII ban hành kèm theo Nghị định.

Ngoài ra, hồ sơ phải có cam kết về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; bản sao hợp đồng liên kết có chứng thực và các văn bản khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Việc tiếp nhận hồ sơ đề xuất dự án phát triển sản xuất được thực hiện tại Bộ phận Một cửa hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia theo quy định. Tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ trực tiếp, trực tuyến hoặc thông qua dịch vụ bưu chính công theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quy định đầu mối cơ quan thụ lý hồ sơ đề nghị dự án theo từng ngành, nghề, lĩnh vực tại địa phương.

Với các quy định về điều kiện lựa chọn dự án, phương thức hỗ trợ, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và trình tự tiếp nhận hồ sơ, Nghị định số 387/2026/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý để các địa phương tổ chức triển khai hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị trong khuôn khổ Chương trình.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/10/2026.

Thuỳ Linh

Các tin khác

Tin nổi bật