A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

PMI tháng 10 đạt 52,3 điểm, ngành sản xuất Việt Nam duy trì đà cải thiện

Theo báo cáo của S&P Global, trong tháng 10/2026, ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục cải thiện, bất chấp áp lực gia tăng từ giá cả và những khó khăn về nguồn cung. Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tăng lên 52,3 trong tháng 10 từ mức 51,9 của tháng 9, cho thấy sức khỏe của ngành sản xuất tiếp tục cải thiện nhẹ vào thời điểm đầu quý IV.

PMI

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng - Manufacturing Purchasing Managers' Index (PMI) ngành sản xuất Việt Nam được S&P Global thu thập từ phần trả lời cho các câu hỏi gửi cho các nhà quản trị mua hàng trong một nhóm gồm khoảng 400 nhà sản xuất.

Nhóm khảo sát được phân chia theo ngành và quy mô lao động của công ty, dựa trên đóng góp vào GDP. Chỉ số PMI bao gồm 5 chỉ số thành phần là: Đơn đặt hàng mới, Sản lượng, Việc làm, Thời gian giao hàng của nhà cung cấp, Tồn kho hàng mua.

Các dữ liệu báo cáo của S&P Global trong kỳ khảo sát tháng 10/2026 cho thấy, các điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất Việt Nam đến nay đã cải thiện trong 16 tháng liên tiếp. Phân tích chi tiết hơn ở các chỉ số cho thấy, tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng tháng thứ sáu liên tiếp bất kể ảnh hưởng kéo dài của sự sụt giảm số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới.

Với số lượng đơn đặt hàng mới tăng khi nhu cầu khách hàng tăng, sản lượng sản xuất tiếp tục tăng trong tháng 10. Tuy nhiên, tốc độ tăng cũng đã chậm lại và đang ở mức thấp của 6 tháng. Một số người trả lời khảo sát cho biết những khó khăn trong việc mua nguyên vật liệu đã ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng.

Những khó khăn trong khâu vận chuyển đã được thể hiện qua dữ liệu về thời gian giao hàng của nhà cung cấp, vốn đã bị kéo dài đáng kể thành mức lớn nhất kể từ tháng 4. Theo người trả lời khảo sát, giá nhiên liệu tăng và điều kiện thời tiết xấu là hai trong các nhân tố dẫn đến tình trạng chậm trễ của hoạt động vận tải.

Ngoài ra, những khó khăn trong khâu nhập khẩu hàng hóa và việc dùng ngay hàng hóa đầu vào để sản xuất đã khiến tồn kho hàng mua giảm mạnh, mặc dù hoạt động mua hàng hóa đầu vào vẫn tăng khi các công ty đã cố gắng mua hàng để phục vụ sản xuất.

Chi phí vận tải tăng cũng là nhân tố chính dẫn đến tăng giá cả đầu vào khi chi phí dầu tăng đã đẩy giá nhiên liệu tăng. Tốc độ tăng giá đã nhanh hơn tháng thứ hai liên tiếp và là tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 6.

Việc làm đã giảm tháng thứ ba liên tiếp trong kỳ khảo sát tháng 10, mức giảm là nhẹ trong khi có một số báo cáo về tình trạng nhân viên nghỉ việc. Mặc dù lực lượng lao động giảm, số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn và khả năng xử lý lượng công việc tồn đọng hiệu quả hơn đã giúp lượng công việc tồn đọng của các công ty giảm nhẹ.

Tồn kho hàng thành phẩm cũng giảm khi các công ty chủ động bán hàng để giảm hàng tồn kho. Hàng tồn kho sau sản xuất giảm đáng kể, mặc dù mức độ giảm là thấp hơn so với tháng 9. Hy vọng về nguồn nguyên liệu thô sẵn có hơn và các điều kiện thị trường tiếp tục cải thiện đã củng cố sự lạc quan về triển vọng sản lượng trong 12 tháng tới. Tâm lý kinh doanh đạt mức cao của 8 tháng nhưng vẫn yếu hơn thời điểm trước cuộc chiến tranh ở Trung Đông.

Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence bình luận: "Các công ty Việt Nam hiện đang chật vật duy trì tăng trưởng khi các yếu tố bất lợi đang khiến hoạt động sản xuất khó khăn hơn. Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng trong tháng 10, từ đó khiến sản lượng tăng mạnh, nhưng trong cả hai trường hợp tốc độ tăng đã chậm lại so với tháng 9.

“Trở ngại đối với tăng trưởng thường đến từ môi trường quốc tế. Chi phí nhiên liệu và vận tải tăng khi giá dầu tăng, trong khi các công ty báo cáo gặp khó khăn trong cả khâu nhập khẩu và xuất khẩu. Trong khi các công ty cho đến nay đã có thể duy trì sự cải thiện, họ sẽ cần có một môi trường thuận lợi hơn để tăng trưởng trong những tháng tới”, ông Andrew Harker phân tích.

Minh Đức

Các tin khác

Tin nổi bật