A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngành Ngân hàng Khu vực 11: Dẫn dòng vốn đúng mạch tăng trưởng kinh tế

Ngành Ngân hàng Khu vực 11 (gồm hai tỉnh: Đắk Lắk và Gia Lai) đang nỗ lực không chỉ mở rộng tín dụng, mà quan trọng hơn, là hướng dòng vốn đi đúng địa chỉ – sản xuất kinh doanh và các động lực tăng trưởng kinh tế địa phương.

Tín dụng đã bám sát “trục tăng trưởng”

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 11 cho thấy, tính đến cuối tháng 3/2026, tổng nguồn vốn huy động toàn Khu vực 11 ước đạt 390.500 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2025. Trong đó: tỉnh Đắk Lắk đạt khoảng 171.200 tỷ đồng (tăng 2,3%) và tỉnh Gia Lai khoảng 219.300 tỷ đồng (tăng 3,0%).

Đáng chú ý, cấu trúc huy động cho thấy sự ổn định tương đối tiền gửi kỳ hạn chiếm tới 79,1% tổng nguồn vốn. Tiền gửi từ 6 tháng trở lên chiếm 67,6%. Đây là nền tảng quan trọng giúp hệ thống ngân hàng duy trì nguồn vốn trung – dài hạn. Tuy nhiên, tốc độ tăng huy động vẫn ở mức khiêm tốn, phản ánh sức hấp thụ tiết kiệm chưa mạnh và cạnh tranh lãi suất ngày càng gia tăng.

doanh-nghiep-dua-cong-nghe-che-bien-sau-de-gia-tang-gia-tri-san-pham..jpg

Ảnh minh họa

Ở chiều ngược lại, tổng dư nợ tín dụng toàn khu vực ước đạt 529.800 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cuối năm 2025 . Như vậy, quy mô tín dụng đã vượt xa huy động, đặt ra áp lực cân đối vốn và thanh khoản trong trung hạn.

Cơ cấu tín dụng đến cuối tháng 3/2026 cho thấy: Thương mại – dịch vụ đạt dư nợ là 335.300 tỷ đồng (tăng 63,2%). Nông, lâm, thủy sản dư nợ là 115.400 tỷ đồng (tăng 21,8%) và Công nghiệp – xây dựng dư nợ đạt 79.100 tỷ đồng (tăng 15%).

Dư nợ nông nghiệp đạt hơn 114 nghìn tỷ đồng, tăng 4% so với cuối năm 2025 . Đặc biệt, chương trình tín dụng 185.000 tỷ đồng cho nông – lâm – thủy sản đã giải ngân gần 32 nghìn tỷ đồng, với hơn 8.300 lượt khách hàng.

Điểm đáng chú ý không nằm ở quy mô, mà ở cách tiếp cận tăng cho vay theo chuỗi giá trị (từ sản xuất – chế biến – xuất khẩu). Gắn tín dụng với mùa vụ cà phê, ngành hàng chủ lực của Tây Nguyên và mở rộng tín dụng cho hợp tác xã, dù quy mô còn khiêm tốn. Đây là tín hiệu cho thấy tư duy tín dụng đang dịch chuyển từ “cho vay đơn lẻ” sang “tài trợ hệ sinh thái”.

Dư nợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng gần 8% – mức cao nhất trong các nhóm đối tượng. Điều này phản ánh nỗ lực rõ rệt trong việc hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, một thực tế cần nhìn thẳng quy mô vẫn chỉ chiếm 14,4% tổng dư nợ. Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ vẫn phụ thuộc nhiều vào tài sản đảm bảo. Cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu vẫn chưa phổ biến. Nói cách khác, tín dụng đã “mở cửa”, nhưng chưa thực sự “dễ vào”.

Trong khi đó, tín dụng bất động sản được kiểm soát ở mức hợp lý – một tín hiệu tích cực trong việc hạn chế rủi ro hệ thống. Dư nợ tín dụng bất động sản ở mức 42.000 tỷ đồng (7,7%).

Mặt bằng lãi suất cho vay ổn định, dư địa giảm không nhiều. Cho vay ngắn hạn ở mức từ 5,8 – 9,2%/năm; trung, dài hạn ở mức 8,5 – 10,5%/năm. Có 67,3% dư nợ nằm trong khoảng lãi suất 6–9%/năm. Mặt bằng này cho thấy nỗ lực giữ ổn định chi phí vốn, nhưng cũng phản ánh thực tế không còn nhiều dư địa giảm sâu lãi suất nếu không có hỗ trợ từ chính sách vĩ mô.

Tín dụng chính sách và an sinh giữ vai trò “đệm” ổn định. Dư nợ tại hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn đạt hơn 32 nghìn tỷ đồng, tăng gần 5%, tập trung vào hộ nghèo, cận nghèo, tạo việc làm và nước sạch và môi trường. Đây là “lớp đệm” quan trọng giúp ổn định xã hội, hạn chế tín dụng đen và duy trì cầu tiêu dùng – yếu tố không thể thiếu trong tăng trưởng bền vững.

Không chỉ “bơm vốn” mà phải “dẫn dòng”

Để tín dụng thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế địa phương, ông Nguyễn Kim Cương, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 cho biết, các tổ chức tín dụng trên địa bàn cần một cách tiếp cận mới – không chỉ tăng quy mô, mà nâng chất lượng dòng vốn theo hướng: Chuyển từ “cho vay tài sản” sang “cho vay dòng tiền”. Đây là “chìa khóa” để mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ. Muốn vậy cần ứng dụng dữ liệu thanh toán, hóa đơn điện tử, kết nối dữ liệu thuế – ngân hàng và phát triển hệ thống chấm điểm tín dụng. Khi đó, doanh nghiệp không cần tài sản lớn vẫn có thể tiếp cận vốn.

Hai là, phát triển tín dụng theo chuỗi ngành hàng chủ lực. Với Tây Nguyên, đó là cà phê, hồ tiêu và nông sản chế biến. Ngân hàng cần tài trợ cả chuỗi nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp chế biến – xuất khẩu. Điều này giúp giảm rủi ro, tăng hiệu quả sử dụng vốn và nâng giá trị gia tăng.

Ba là, đẩy mạnh tín dụng xanh và kinh tế tuần hoàn, đây không còn là xu hướng, mà là yêu cầu. Các lĩnh vực cần ưu tiên nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và chế biến sâu, giảm phát thải. Muốn vậy cần có cơ chế ưu đãi lãi suất, bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật .

Bốn là, kết nối mạnh hơn giữa ngân hàng – chính quyền – doanh nghiệp. Chương trình “kết nối ngân hàng – doanh nghiệp” đã phát huy hiệu quả, nhưng cần nâng cấp không chỉ đối thoại, mà giải quyết cụ thể từng hồ sơ. Không chỉ hội nghị, mà tổ công tác thường trực. Không chỉ hỗ trợ, mà đồng hành dài hạn.

Năm là đẩy nhanh chuyển đổi số để giảm chi phí tín dụng. Hiện nay, giải ngân online xác thực qua VNeID đã tạo nền tảng tốt. Bước tiếp theo là tự động hóa quy trình tín dụng, rút ngắn thời gian phê duyệt, giảm chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng.

Khi tín dụng không chỉ là “dòng tiền”, mà là “chiến lược phát triển” ngành Ngân hàng Khu vực 11 đang đứng trước một yêu cầu lớn hơn bao giờ hết không chỉ cung ứng vốn, mà phải dẫn dắt dòng vốn chảy vào đúng thế mạnh tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng có tính bền vững.

 
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật