![]() |
| Các đại biểu thảo luận tại Chương trình Kết nối cung - cầu thủy sản cho thị trường nội địa. Ảnh: TTTN |
Dư địa lớn cho thủy sản Việt từ thị trường gần 100 triệu dân
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 11,3 tỷ USD, sản phẩm có mặt tại trên 170 quốc gia, tổng sản lượng thủy sản cả nước đạt gần 10 triệu tấn. Trong khi đó, quy mô thị trường thủy sản nội địa mới đạt khoảng 1 tỷ USD/năm.
Trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, chính sách thuế quan và hàng rào kỹ thuật tại một số thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, phát triển vững chắc thị trường nội địa được xác định là hướng đi giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó rủi ro, ổn định sản xuất, giảm phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu trọng điểm, đồng thời tạo cơ hội xây dựng và khẳng định thương hiệu thủy sản Việt ngay trên thị trường trong nước.
Chia sẻ tại Chương trình Kết nối cung - cầu thủy sản nội địa diễn ra ngày 20/8 vừa qua tại TP. Hồ Chí Minh, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, ngành thủy sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đóng góp 4-5% vào GDP quốc gia, chiếm 25-30% GDP khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa năng lực của ngành và quy mô thị trường trong nước còn khá lớn. Thị trường thủy, hải sản nội địa hiện ước đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, mức tiêu thụ bình quân đầu người khoảng 40 kg/năm. Trong kênh phân phối hiện đại, thủy sản sản xuất trong nước chiếm khoảng 60-70% thị phần với các mặt hàng chủ lực như tôm, cá basa, mực, cá biển; thủy sản nhập khẩu vẫn chiếm 30-40%.
Theo ông Trần Hữu Linh, đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy bằng chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm Việt. Định hướng “Hàng Việt vì người Việt” đặt ra yêu cầu không chỉ tác động vào phía cầu, mà còn phải nâng cao năng lực sản xuất, hoàn thiện chất lượng nguồn cung và xây dựng hệ sinh thái thị trường trong nước phát triển bền vững.
![]() |
| Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương). |
Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước xác định ba yếu tố then chốt để thủy sản Việt cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa. Trước hết, sản phẩm phải cạnh tranh bằng chất lượng, an toàn thực phẩm và giá trị dinh dưỡng. Cùng với đó là yêu cầu minh bạch, truy xuất được nguồn gốc để tạo niềm tin cho người tiêu dùng; đồng thời phải gắn kết chặt chẽ chuỗi giá trị từ người nuôi, ngư dân, doanh nghiệp chế biến đến hệ thống phân phối, đưa sản phẩm tới người tiêu dùng nhanh chóng và thuận tiện.
Ở góc độ hiệp hội ngành hàng, bà Lê Hằng, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, những thay đổi trong lối sống và xu hướng tiêu dùng đang tạo thêm không gian phát triển cho thủy sản tại thị trường trong nước. Dư địa đáng chú ý nằm ở nhóm sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm giá trị gia tăng, thực phẩm tiện lợi và quy cách đóng gói nhỏ, phù hợp với nhu cầu của các gia đình trẻ cũng như sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại, dịch vụ ăn uống và thương mại điện tử.
Để chuyển tiềm năng thành sức mua thực tế, theo bà Lê Hằng, mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối cần cụ thể và thực chất hơn. Các nhà phân phối cần cung cấp rõ thông tin về nhu cầu từng ngành hàng, tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp, nhóm khách hàng mục tiêu và định hướng phát triển sản phẩm. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp thủy sản phải chủ động giới thiệu năng lực cung ứng, chính sách thương mại, đặc tính sản phẩm, đồng thời sẵn sàng phối hợp triển khai các hoạt động quảng bá, dùng thử và khuyến mại cả tại điểm bán lẫn trên các nền tảng trực tuyến.
Những chuyển động của nhu cầu tiêu dùng cũng đang được các doanh nghiệp bán lẻ nhận diện khá rõ. Ông Nguyễn Thái Dũng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Bán lẻ FujiMart Việt Nam cho biết, người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới thực phẩm lành mạnh, có xu hướng tăng sử dụng thủy hải sản và rau củ. Cùng với đó, nhu cầu đang chuyển dần từ sản phẩm tươi sống sang các mặt hàng được sơ chế và chế biến sâu. Trong bối cảnh này, đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp giảm áp lực logistics mà còn góp phần duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trình đưa hàng tới người tiêu dùng.
Tuy nhiên, để khai thác tốt hơn thị trường trong nước, ngành thủy sản vẫn phải giải quyết nhiều nút thắt. Một trong những vấn đề được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là chi phí logistics. Ông Nguyễn Duy Hằng, Giám đốc Kinh doanh nội địa Công ty Thủy sản Lenger Việt Nam cho rằng, chi phí logistics trong nước còn cao, ảnh hưởng đáng kể tới khả năng phát triển các dòng sản phẩm tiêu dùng nhanh và chế biến sâu.
Song hành với logistics là bài toán cân đối giữa tiêu chuẩn chất lượng và giá bán. Bà Ngô Thị Đoan Phương, Giám đốc Chiến lược kinh doanh nội địa Công ty Hải Nam cho biết, doanh nghiệp sử dụng chung cơ sở vật chất, quy trình quản lý và đội ngũ công nhân phục vụ hàng xuất khẩu để sản xuất hàng cho thị trường trong nước, qua đó duy trì chất lượng đồng nhất. Tuy nhiên, áp dụng tiêu chuẩn cao cũng đồng nghĩa với chi phí sản xuất lớn hơn, trong khi hệ thống bán lẻ chịu sức ép cạnh tranh về giá. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tiết giảm những khoản chi phí không cần thiết để vừa bảo đảm chất lượng, vừa duy trì khả năng cạnh tranh.
Từ phía nhà bán lẻ, đại diện Saigon Co.op cho biết, để sản phẩm thủy sản có thể vào hệ thống, doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản về hồ sơ pháp lý, tiêu chuẩn kiểm nghiệm của Nhà nước, mức giá cạnh tranh và khả năng cung ứng ổn định. Việc đáp ứng đồng thời các điều kiện này là cơ sở để sản phẩm thủy sản Việt mở rộng hiện diện tại các điểm bán hiện đại.
Đồng bộ giải pháp, mở rộng sức tiêu thụ trên thị trường nội địa
Từ những khó khăn được nhận diện, yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng nguồn hàng mà còn phải đồng thời tháo gỡ các nút thắt trong toàn bộ quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng. Điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối trên nhiều phương diện, từ tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, logistics đến dữ liệu thị trường và truyền thông.
Ở khâu phân phối, ông Trần Quang Huy, Trưởng phòng thu mua thủy sản MM Mega Market Việt Nam cho rằng, sản phẩm thủy sản nội địa cần đáp ứng ba yêu cầu trọng tâm. Trước hết là minh bạch thông tin và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc nuôi trồng. Tiếp đó, các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm phải được kiểm soát nghiêm ngặt, đặc biệt đối với các chỉ tiêu về kháng sinh. Đồng thời, doanh nghiệp phải duy trì được chuỗi cung ứng lạnh phù hợp với từng nhóm sản phẩm. Theo yêu cầu của hệ thống, hàng tươi sống cần được giao ở nhiệt độ 0-4°C; đối với hàng đông lạnh như tôm, mực, bạch tuộc, sản phẩm IQF hay Ready-to-cook phải bảo đảm tiêu chuẩn âm sâu.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết, Cục sẽ tiếp tục đồng hành với cộng đồng doanh nghiệp bằng nhiều giải pháp cụ thể. Trong đó, cơ quan quản lý sẽ xây dựng chương trình hướng vào phát triển thị trường trong nước đối với thủy hải sản chất lượng cao, đồng thời thiết lập và duy trì kênh kết nối thường xuyên giữa các đơn vị sản xuất với hệ thống phân phối.
Truy xuất nguồn gốc cũng là một trong những nội dung được ưu tiên. Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước sẵn sàng bố trí chuyên gia hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chuỗi truy xuất nội bộ có chứng nhận. Đối với nút thắt logistics, cơ quan quản lý sẽ phối hợp với các đối tác bưu chính, logistics như Viettel Post để tìm giải pháp cải thiện hạ tầng, nhất là hệ thống kho lạnh. Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu, thực hiện báo cáo định kỳ và tăng cường ứng dụng hạ tầng số phục vụ hoạt động phân phối.
Không chỉ giải quyết các vấn đề về hạ tầng, việc định hướng và thay đổi thói quen tiêu dùng cũng được xác định là một phần quan trọng trong quá trình mở rộng thị trường. Theo ông Trần Hữu Linh, cần tăng cường các chiến dịch truyền thông chính thống nhằm cung cấp cho người dân kiến thức về phương pháp sử dụng, bảo quản thủy hải sản theo hướng chuẩn hóa, trong đó có làm lạnh sâu, lạnh nhanh.
Theo bà Lê Hằng, truyền thông về chất lượng, tiêu chuẩn và quy trình bảo quản, người tiêu dùng có thêm cơ sở để nhận diện đúng giá trị của sản phẩm thủy sản Việt. VASEP cho biết sẽ thúc đẩy các hoạt động truyền thông “Thủy sản Việt vì người Việt”, đồng thời phối hợp với hệ thống siêu thị triển khai chương trình dùng thử, giới thiệu sản phẩm tại điểm bán và quảng bá trên các nền tảng trực tuyến.
Thị trường gần 100 triệu dân vì vậy đang mở ra không gian đáng kể để thủy sản Việt gia tăng sức tiêu thụ ngay trong nước. Để biến dư địa thành thị phần, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ từ nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc, đổi mới quy cách và phát triển sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi đến giảm chi phí logistics, hoàn thiện hạ tầng kho lạnh và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận hệ thống bán lẻ.
Khi kết nối cung - cầu được duy trì thường xuyên, thông tin thị trường minh bạch hơn và hoạt động truyền thông tới người tiêu dùng được tăng cường, sản phẩm thủy sản Việt sẽ có thêm điều kiện mở rộng hiện diện trên thị trường nội địa, qua đó góp phần tạo sự cân bằng hơn giữa thị trường trong nước và xuất khẩu.




