Áp lực gia tăng, xuất hiện 3 kịch bản điều hành
Theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ, mục tiêu kiểm soát lạm phát (CPI bình quân) năm 2026 được đặt ở mức khoảng 4,5%.
Theo số liệu của Cục Thống kê Việt Nam (GSO), tính chung 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,04%. Diễn biến này cho thấy lạm phát vẫn đang trong vùng kiểm soát, song đã tiến sát ngưỡng mục tiêu cả năm.
Kết quả này có được nhờ sự phối hợp khá hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, cùng các giải pháp bảo đảm nguồn cung, bình ổn thị trường, miễn giảm thuế, phí đối với xăng dầu và kiểm soát đầu cơ, thao túng giá. Qua đó, thị trường không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa hay sốt giá trên diện rộng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
Tuy nhiên, áp lực lạm phát đang có xu hướng lớn dần khi nhiều yếu tố bất lợi xuất hiện đồng thời.
Bên ngoài, diễn biến phức tạp của xung đột tại Trung Đông đã đẩy giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên vật liệu đầu vào tăng lên trong thời gian dài. Trong nước, quá trình phục hồi tiêu dùng, đầu tư, cùng việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công dự kiến tiếp tục làm gia tăng nhu cầu điện, vật liệu xây dựng, nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào trong những tháng còn lại của năm.
Theo GS,TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cần đặc biệt lưu ý hiện tượng nhập siêu quay trở lại. Khi nhập siêu tăng, nhu cầu ngoại tệ lớn hơn sẽ tạo sức ép lên tỷ giá. Tỷ giá biến động có thể làm chi phí nhập khẩu tăng và tác động trở lại lạm phát. Lạm phát cao hơn lại khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ bị thu hẹp.
Ngân hàng Nhà nước dự báo lạm phát bình quân năm 2026 dao động trong khoảng 4,8%-5,5%, nằm trong miền 5% ± 0,5; các tổ chức quốc tế dự báo khoảng 3,8%-5,2%.
Đáng chú ý, tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá ngày 26/6/2026 dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Bộ Tài chính đã cập nhật 3 kịch bản lạm phát năm 2026 ở mức lần lượt là khoảng 4,5%; 5% và 5,5%
Việc xây dựng 3 kịch bản cho thấy cơ quan điều hành đang phải tính đến nhiều cấp độ rủi ro khác nhau đối với nền kinh tế trong bối cảnh thế giới rất biến động, các biến số như giá năng lượng, tỷ giá và nhu cầu tăng trưởng vẫn diễn biến khó lường.

Ảnh minh họa
Mục tiêu 4,5% và dư địa hẹp
Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng lưu ý rằng lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhưng áp lực đối với mục tiêu cả năm còn lớn, trong khi dư địa điều hành còn rất ít.
Các chuyên gia lại rất chú ý khi mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% theo Nghị quyết 01/NQ-CP ở ngưỡng thấp nhất trong 3 kịch bản được xây dựng. Điều này cho thấy, dư địa điều hành đang thu hẹp đáng kể, trong khi áp lực từ giá năng lượng, tỷ giá và nhu cầu tăng trưởng vẫn hiện hữu trong những tháng cuối năm.
TS. Nguyễn Đức Độ, Chuyên gia kinh tế tài chính phân tích, lạm phát trung bình 5 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ đã ở mức 4,3%. Vì vậy, muốn đạt dưới 4,5% cả năm, thì lạm phát trung bình 7 tháng cuối năm so với cùng kỳ phải dưới 4,6%. Nhưng lạm phát tháng 5/2026 so với cùng kỳ đang ở mức 5,6%. Nói cách khác, để đạt được mục tiêu thì lạm phát so với cùng kỳ các tháng cuối năm phải giảm từ 5,6% hiện nay xuống 4% hoặc thấp hơn. Đây là thách thức lớn trong bối cảnh thế giới đang nhiều biến động, còn dư địa chính sách trong nước đang hẹp lại.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, khả năng cao lạm phát trung bình năm nay sẽ nằm trong khoảng 4,5%-5%. Để đạt mục tiêu dưới 4,5%, cần hội tụ nhiều điều kiện như giá dầu tiếp tục giảm mạnh; Nhà nước không điều chỉnh giá dịch vụ y tế, giáo dục và giá điện...
Biên độ chính sách và bài toán phối hợp vĩ mô
Theo phân tích của GS,TS. Trần Thọ Đạt, bài toán điều hành hiện nay đang đặt trong trạng thái cân bằng hẹp giữa mục tiêu ổn định lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.
Nếu mở rộng tín dụng quá nhanh trong khi áp lực giá cả chưa hạ nhiệt rõ ràng, lượng tiền lưu thông tăng lên có thể tạo thêm sức ép lên tỷ giá và dòng vốn, từ đó lan tỏa trở lại mặt bằng giá trong nền kinh tế. Ngược lại, nếu chính sách tiền tệ được điều hành quá thận trọng, chi phí vốn của doanh nghiệp sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và sức cầu nội địa. Điều này cho thấy dư địa điều hành không còn nhiều và biên độ lựa chọn chính sách đang thu hẹp đáng kể.
Trong bối cảnh hiện nay, GS,TS. Trần Thọ Đạt cho rằng, chính sách tiền tệ cần được tái định vị theo hướng ưu tiên ổn định vĩ mô, với trọng tâm là giữ ổn định mặt bằng lãi suất và tỷ giá, kiểm soát kỳ vọng lạm phát và nâng cao chất lượng dòng vốn trong nền kinh tế.
Ở góc độ điều hành vĩ mô, tại cuộc họp trên, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã yêu cầu tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; theo dõi sát diễn biến lạm phát cơ bản, cung tiền, tín dụng, tỷ giá và lãi suất; đồng thời điều hành tín dụng và tỷ giá linh hoạt nhằm hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu.
Còn theo TS. Nguyễn Đức Độ, trong bối cảnh môi trường kinh tế quốc tế còn nhiều bất định, dư địa để đạt đồng thời mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát đang bị thu hẹp. Để đạt mục tiêu kép, đòi hỏi phải có nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị và sự phối hợp chính sách chặt chẽ và linh hoạt hơn trong phần còn lại của năm.

Nguồn : Cục Thống kê (Bộ Tài chính)

