A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Đơn hàng cuối năm khởi sắc, các ngành xuất khẩu chủ lực kỳ vọng tăng trưởng

Với tổng kim ngạch 7 tháng tăng 21,7%, hoạt động xuất khẩu đang có nền tảng để tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm. Ngành điện tử ghi nhận đơn hàng khá ổn định; các ngành dệt may, gỗ, nông sản và các ngành xuất khẩu chủ lực cũng đang mở rộng thị trường, nâng giá trị sản phẩm, tạo thêm dư địa tăng trưởng trong những tháng còn lại của năm 2026.

xuất khẩu
Các doanh nghiệp ngành xuất khẩu chủ lực đặt nhiều kỳ vọng tăng trưởng
cuối năm. Ảnh: H.D

Ngành điện tử kỳ vọng tăng trưởng xuất khẩu 2 con số

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành điện tử trong 7 tháng đầu năm đạt trên 127 tỷ USD, tiếp tục dẫn đầu các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo về kim ngạch xuất khẩu.

Trong đó, nhóm máy tính và linh kiện điện tử ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ, còn điện thoại và linh kiện cũng duy trì tăng trưởng khá. “Nếu tính cân đối cả năm thì chúng tôi dự trù tăng trưởng xuất khẩu 2 con số của ngành điện tử sẽ đạt được”, bà Hương cho biết.

Cơ sở cho kỳ vọng này trước hết đến từ đơn hàng. Theo phản ánh của các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội, nhiều doanh nghiệp đã có kế hoạch sản xuất tương đối rõ cho phần còn lại của năm.

“Rất nhiều doanh nghiệp báo về Hiệp hội là có đơn hàng khá ổn định đến tận cuối năm nay. Chúng tôi lo lắng cho những đơn hàng của những năm sau, còn đơn hàng của năm nay thì tương đối dồi dào”, bà Hương nói.

Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Cục Hải quan (Bộ Tài chính) ghi nhận tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 7 tháng năm 2026 đạt 659,78 tỷ USD, tăng 28,1%, tương ứng tăng 144,83 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

Riêng kim ngạch xuất khẩu đạt 319,73 tỷ USD, tăng 21,7%, tương ứng tăng 57,08 tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương, nếu không có diễn biến bất lợi lớn, dự báo kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể tăng khoảng 15-16%.

Theo đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, hoạt động nhập khẩu linh kiện, máy móc trong những tháng đầu năm cũng gắn với chu kỳ sản xuất và xuất khẩu cuối năm. Doanh nghiệp thường chuẩn bị nguyên liệu, linh kiện, thiết bị trước, sau đó tăng tốc sản xuất vào tháng 9, tháng 10 để có hàng giao trong tháng 11 và tháng 12 - giai đoạn bán hàng cao điểm tại Mỹ và châu Âu.

Nhu cầu đầu tư cho AI trên thế giới tăng cũng tác động đến nguồn cung và giá chip. Theo bà Hương, nhiều doanh nghiệp phản ánh việc phải mua, dự trữ linh kiện từ sớm với giá tăng khoảng 5-20% để bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Bên cạnh mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu, ngành điện tử đang hướng tới tham gia các khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu tham gia nghiên cứu, thiết kế, cung ứng thay vì chỉ đứng ở những khâu gia công.

Dệt may, gỗ, nông sản tìm kiếm thêm dư địa tăng trưởng

Cùng với điện tử, các ngành xuất khẩu chủ lực khác đang tìm dư địa tăng trưởng từ mở rộng thị trường, nâng tỷ lệ nội địa hóa, chế biến sâu và gia tăng giá trị sản phẩm.

Theo đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt khoảng 27 tỷ USD, tăng 2,67%. Tính toàn chuỗi từ bông, sợi, vải đến may mặc, ngành xuất siêu khoảng 11,76 tỷ USD.

Trong những tháng cuối năm, ngành dệt may định hướng tiếp tục khai thác các thị trường hiện có, mở rộng thị trường mới và tăng khả năng chủ động nguyên phụ liệu. Phát triển sản xuất vải và nguyên phụ liệu trong nước được kỳ vọng giúp tăng tỷ lệ nội địa hóa, tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA), đáp ứng quy tắc xuất xứ và tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Với ngành gỗ, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, sản phẩm gỗ Việt Nam hiện đã có mặt tại 167 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỹ tiếp tục là thị trường quan trọng nhất, chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của ngành.

Bên cạnh duy trì và mở rộng thị trường, ngành gỗ đang hướng tới dịch chuyển từ sản xuất theo đơn đặt hàng, gia công sang chủ động hơn trong thiết kế. Sự chuyển đổi này sẽ giúp doanh nghiệp tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn, từng bước gia tăng giá trị trên mỗi sản phẩm xuất khẩu.

Trong nhóm nông sản, ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta cho rằng, Việt Nam có lợi thế khi nhiều mặt hàng nông sản đang giữ vị trí cao trên thị trường thế giới, trong khi mạng lưới FTA mở ra khả năng tiếp cận nhiều thị trường quan trọng. Hơn nữa, công nghệ và chuyển đổi số đang tạo thêm cơ hội nâng giá trị nông sản. Các thiết bị IoT, công nghệ tự động và giải pháp số có thể hỗ trợ quản lý canh tác, dịch bệnh, dự báo thời tiết, vận hành sản xuất; đồng thời minh bạch nguồn gốc thông qua mã số vùng trồng, mã số nhà máy.

Tại Musa Pacta, doanh nghiệp đang phát triển các sản phẩm từ cây chuối như sợi chuối, bột chuối, vải sợi chuối và tận dụng phần bã để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh. Theo ông Dũng, công nghệ có thể biến phụ phẩm nông nghiệp thành hàng hóa mới, qua đó mở thêm không gian tăng trưởng thay vì chỉ dựa vào các sản phẩm nông nghiệp truyền thống.

Từ thực tế này, ông Bùi Khánh Dũng đề xuất tiếp tục chuẩn hóa mã vùng trồng, các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, organic; phát triển nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp không rác thải và tạo điều kiện về vốn để doanh nghiệp đầu tư sản xuất.

Với ngành lúa gạo, các doanh nghiệp cũng đang ổn định thị trường xuất khẩu, đồng thời tăng cường thu mua, dự trữ lúa gạo và đầu tư hệ thống kho sấy, kho chứa nhằm nâng giá trị gạo Việt Nam. Với thủy sản, định hướng được đặt vào chủ động nguồn nguyên liệu, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh của các sản phẩm chế biến xuất khẩu.

Chia sẻ thêm liên quan đến xuất khẩu, TS. Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh tế, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, triển vọng xuất khẩu không nên chỉ được nhìn qua câu chuyện “xuất được hàng”, mà cần hướng tới khả năng doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị tại từng thị trường.

Lấy Australia làm ví dụ, TS. Vân nhận định, cơ hội đang mở rộng ở 3 nhóm gồm năng lượng và khoáng sản thiết yếu; các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ số, công nghệ sinh học; nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm. Trong nông nghiệp, cơ hội nằm ở chế biến, logistics lạnh, công nghệ nông nghiệp và xây dựng chuỗi thực phẩm có khả năng truy xuất nguồn gốc. Với năng lượng và khoáng sản, doanh nghiệp có thể tìm cơ hội ở chế biến sâu, công nghệ vật liệu, thiết bị năng lượng và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Theo TS. Hà Thị Cẩm Vân, cạnh tranh bằng giá thấp sẽ ngày càng khó tại những thị trường có sức mua cao. Chất lượng, thương hiệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn sẽ trở thành những yếu tố quan trọng hơn.

Doanh nghiệp cũng cần khai thác tốt hơn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA) thông qua việc nắm rõ quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và ưu đãi đối với từng sản phẩm. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, một hướng đi khả thi là trở thành nhà cung cấp hoặc đối tác sản xuất cho doanh nghiệp Australia, sau đó từng bước tiến lên các khâu có giá trị cao hơn như chế biến sâu, thiết kế sản phẩm, công nghệ và phát triển thương hiệu.

Các chuyên gia và doanh nghiệp cũng đề xuất, hoạt động xúc tiến thương mại cần đi sâu hơn vào từng chuỗi giá trị, xác định doanh nghiệp đầu tàu, nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối có nhu cầu để kết nối với các doanh nghiệp Việt Nam phù hợp.

Với đà tăng của 7 tháng cùng tín hiệu đơn hàng tích cực tại một số ngành chủ lực, hoạt động xuất khẩu đang có nền tảng để tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm. Tuy nhiên, dư địa của từng ngành sẽ phụ thuộc vào khả năng mở rộng thị trường, nâng tỷ lệ nội địa hóa, chế biến sâu và đưa sản phẩm Việt Nam lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng.

Hương Dịu
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật