|
| Diễn biến tỷ giá USD/VND 2022-2026. Nguồn: KBSV |
Báo cáo triển vọng kinh tế quý II/2026 của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho biết, tỷ giá USD/VND duy trì xu hướng hạ nhiệt trong nửa đầu quý I/2026 nhờ nhu cầu VND tăng trước Tết Nguyên đán, dòng kiều hối dồi dào và chỉ số DXY về vùng thấp. Nhưng xu hướng này đảo chiều nhanh từ cuối tháng 2, khi căng thẳng tại Trung Đông bùng phát, kéo dòng vốn toàn cầu quay lại các tài sản trú ẩn như USD và trái phiếu kho bạc Mỹ, đồng thời đẩy giá dầu tăng mạnh.
Từ thời điểm xung đột nổ ra đến hết quý I/2026, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng và tỷ giá trung tâm đã tăng thêm lần lượt 282 đồng và 58 đồng. Trên thị trường tự do, mức độ biến động còn rõ nét hơn. Theo KBSV, tỷ giá chợ đen đã chạm đỉnh lịch sử trong hai phiên cuối quý I/2026, lên 28.080 VND/USD, tăng 4,7% so với đầu năm. Một nguyên nhân đáng chú ý là chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới nới rộng lên 20-30 triệu đồng/lượng, góp phần làm gia tăng nhu cầu USD.
Trước đó, trong năm 2025, diễn biến tỷ giá cũng có những biến động đáng chú ý. Theo Báo cáo tóm tắt ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 do nhóm chuyên gia Đại học Kinh tế quốc dân thực hiện (dự kiến công bố đầy đủ vào ngày 24/4/2026), áp lực lên tỷ giá đã kéo dài trong phần lớn năm 2025. Tỷ giá tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm, đạt đỉnh vào quý III/2025 trước khi hạ nhiệt về cuối năm. Tính chung cả năm, VND mất giá khoảng 3,3% theo tỷ giá trung tâm và khoảng 5% trên thị trường tự do, trong khi nhiều đồng tiền trong khu vực lại có xu hướng lên giá so với USD.
Báo cáo chỉ ra, áp lực tỷ giá giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ một số yếu tố như chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, nhu cầu ngoại tệ gia tăng từ nhập khẩu... Theo GS.TS. Tô Trung Thành, Trưởng phòng, Phòng Quản lý Khoa học, Đại học Kinh tế Quốc dân, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP. Hà Nội nhiệm kỳ 2026-2031, điều này cho thấy các yếu tố trong nước ngày càng đóng vai trò chi phối rõ hơn đến cân bằng đối ngoại và ổn định vĩ mô.
Theo GS.TS. Tô Trung Thành, áp lực tỷ giá gia tăng đã thu hẹp đáng kể dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ, đặt ra bài toán đánh đổi trong “bộ 3 bất khả thi” giữa ổn định tỷ giá, tự do dòng vốn và độc lập chính sách tiền tệ. Vì thế, chính sách tiền tệ trong năm 2026 nên chuyển sang trạng thái "thận trọng linh hoạt", tập trung ổn định lãi suất và tỷ giá để giữ vững kỳ vọng lạm phát. Điều hành lãi suất và tỷ giá phải phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa. |
Vì thế, trong năm 2026, theo các chuyên gia, áp lực mới đang hình thành nhanh hơn dưới tác động từ bên ngoài.
Trước những áp lực này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục duy trì cách tiếp cận điều hành linh hoạt. Theo Báo cáo Đánh giá kinh tế Việt Nam, cơ quan quản lý đã kết hợp nhiều công cụ như điều chỉnh tỷ giá trung tâm, can thiệp ngoại tệ có điều kiện, đặc biệt qua giao dịch kỳ hạn, điều tiết thanh khoản VND trên thị trường mở, sử dụng công cụ hoán đổi ngoại tệ và tăng cường kiểm soát thị trường ngoại hối phi chính thức.
Báo cáo vĩ mô mới đây của Công ty Chứng khoán VCBS ghi nhận, NHNN đã triển khai kênh bán USD kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang với mức giá 26.850 VND/USD cho các tổ chức tín dụng âm trạng thái ngoại tệ, giúp các ngân hàng chủ động cân bằng nguồn ngoại tệ.
Nhìn về phần còn lại của năm 2026, các tổ chức phân tích đều cho rằng tỷ giá vẫn sẽ chịu sức ép, dù mức độ khác nhau. KBSV dự báo tỷ giá USD/VND tăng khoảng 2,5-3%, trong khi VCBS đưa ra kịch bản thận trọng hơn với mức mất giá 3-5%.
Riêng trong quý II/2026, VCBS cho rằng, áp lực tỷ giá nhiều khả năng tiếp diễn do môi trường địa chính trị bất định, dòng vốn toàn cầu có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản an toàn như vàng, USD và trái phiếu Chính phủ Mỹ, qua đó hỗ trợ chỉ số DXY tăng trong ngắn hạn. Hơn nữa, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì lãi suất ở mức 3,5–3,75% trong các kỳ họp FOMC quý II và không còn dư địa giảm lãi suất trong năm 2026, tiếp tục củng cố sức mạnh của đồng USD.
Bên cạnh đó, giá dầu thế giới neo cao khiến các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu và điện lực gia tăng nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu, trong khi chênh lệch giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 20% cũng góp phần duy trì nhu cầu USD để nhập khẩu vàng.
Hơn nữa, cũng theo báo cáo của VCBS, định hướng xuyên suốt của NHNN là duy trì ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việc giảm lãi suất huy động được xem là điều kiện cần để giảm lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng áp lực huy động vốn đối với hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu; đồng thời áp lực tỷ giá cũng đặt ra yêu cầu duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD hợp lý nhằm ổn định dòng vốn.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia Đại học Kinh tế quốc dân khuyến nghị, chính sách tiền tệ cần chuyển sang trạng thái “thận trọng linh hoạt”, ưu tiên ổn định lãi suất và tỷ giá nhằm giữ vững kỳ vọng lạm phát, đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa.
Theo GS.TS. Tô Trung Thành, việc mở rộng tín dụng vẫn cần thiết nhưng phải dựa trên năng lực hấp thụ vốn thực tế của nền kinh tế, chất lượng dòng tiền và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Quan trọng hơn, dòng vốn cần được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao, tránh lãng phí nguồn lực và hạn chế nguy cơ hình thành bong bóng tài sản.


