
Những người lao động tham gia Chương trình IM Japan và Chương trình EPS tại Trung tâm Dịch vụ việc làm TP Cần Thơ. Ảnh: Hương Nha
Chi phí giảm, thu nhập tháng đầu tăng
Khảo sát thu thập thông tin từ 3.596 người lao động di cư quốc tế thuộc 6 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài - Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1” cho thấy bình quân, mỗi lao động chi trả khoảng 125,7 triệu đồng, giảm so với mức 164,9 triệu đồng năm 2021. Trong khi đó, thu nhập tháng đầu tiên tại nước đến tăng từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng.
Nhờ đó, chỉ số chi phí do lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài (RCI) giảm từ 7,4 tháng xuống còn 4,5 tháng thu nhập.
Xét theo nhóm tuổi, lao động trẻ (15-24 tuổi) tiếp tục là nhóm chịu chi phí cao nhất, khoảng 142,9 triệu đồng, dù đã giảm mạnh so với năm 2021. Nhóm từ 40 tuổi trở lên vẫn có chi phí thấp nhất (111,9 triệu đồng). Đáng chú ý, chênh lệch giới tính theo nhóm tuổi có xu hướng rõ hơn, với nam cao hơn nữ ở hầu hết các nhóm tuổi.
Theo tình trạng hôn nhân, những người chưa kết hôn vẫn chịu chi phí cao hơn so với nhóm đã kết hôn (128,5 triệu đồng so với 121,3 triệu đồng). Tuy nhiên, khoảng cách này đã thu hẹp rõ rệt so với năm 2021, khi mức chênh lệch giảm từ khoảng 28,5 triệu đồng xuống còn 7,2 triệu đồng.
Bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê - cho biết: “Số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư. Qua đó, cung cấp bằng chứng phục vụ nghiên cứu, phân tích cũng như theo dõi các mục tiêu phát triển”.
Tăng kết nối việc làm cho lao động sau khi về nước
Bà Emelie Rennerfelt - Phó Đại sứ, Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam - nhấn mạnh, dữ liệu đáng tin cậy là nền tảng thiết yếu để hiểu được những gì đang tiến triển và những gì cần tiếp tục hành động. Mỗi số liệu thống kê phản ánh câu chuyện một người lao động đưa ra quyết định quan trọng về tương lai của mình.
Ông Nguyễn Hải Lý - Phó Trưởng phòng Pháp chế - Kiểm tra (Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Nội vụ) - chia sẻ, cùng với việc mở rộng thị trường chất lượng, cơ quan quản lý đặc biệt quan tâm đến việc kết nối người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng, tái hòa nhập vào thị trường lao động trong nước.
Theo ông Nguyễn Hải Lý, một hành trình di cư chỉ thực sự trọn vẹn khi nguồn vốn nhân lực tích lũy từ nước ngoài được phát huy hiệu quả sau khi người lao động trở về nước. Đơn vị đang phối hợp xây dựng cơ chế công nhận tương đương đối với các chứng chỉ, kỹ năng nghề mà người lao động đã tích lũy ở nước ngoài vào Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia.
Dữ liệu người lao động hồi hương sẽ được tích hợp vào hệ thống dịch vụ việc làm để kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài từ chính các thị trường họ từng làm việc.
“Chúng tôi cũng chú trọng hỗ trợ tư vấn tài chính, giúp người lao động chuyển hóa nguồn vốn tích lũy thành nguồn vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo sinh kế bền vững tại quê hương” - ông Nguyễn Hải Lý cho biết.


