|
| Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm (tính đến ngày 20/8/2026). |
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến ngày 20/8/2026, cả nước cơ bản hoàn thành gieo trồng lúa hè thu với diện tích 1.870 nghìn ha, giảm 29,1 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực phía Bắc đạt 167,5 nghìn ha, giảm 4,9 nghìn ha; phía Nam đạt 1.702,5 nghìn ha, giảm 24,2 nghìn ha. Diện tích giảm chủ yếu do một số địa phương chuyển đất lúa sang cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, thu hồi đất phục vụ dự án, công trình công cộng và ảnh hưởng của nắng nóng, thiếu nước tưới.
Đến ngày 20/8, diện tích lúa hè thu đã thu hoạch đạt 723,7 nghìn ha, chiếm 38,7% diện tích xuống giống và bằng 77,5% cùng kỳ năm trước. Tiến độ chậm hơn chủ yếu do các địa phương điều chỉnh lịch thời vụ, lùi thời điểm xuống giống để chủ động ứng phó với khô hạn, thiếu nước. Tại An Giang, diện tích đã thu hoạch đạt 240,5 nghìn ha, chiếm 47,8% diện tích xuống giống; Cần Thơ đạt 159,2 nghìn ha, chiếm 56,1%; Đồng Tháp đạt 145,4 nghìn ha, chiếm 62,7%.
Vụ lúa mùa, cả nước đã gieo cấy 1.312,5 nghìn ha, giảm 50,7 nghìn ha so với cùng kỳ. Tại phía Nam, lúa thu đông mới gieo sạ 292,3 nghìn ha, bằng 64,2% cùng kỳ, chủ yếu do lúa hè thu thu hoạch muộn. Những diễn biến này cho thấy sản xuất trồng trọt đang chịu tác động đồng thời từ biến đổi khí hậu, nguồn nước và quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Do đó, bài toán đặt ra không chỉ là duy trì diện tích mà còn cần phải nâng hiệu quả trên từng đơn vị đất đai, chủ động hơn với rủi ro thời tiết.
Trong chăn nuôi, xu hướng tích cực tiếp tục được duy trì. Chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển khá, nhất là tại các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn. Việc chủ động con giống, thức ăn, áp dụng quy trình khép kín và tăng cường an toàn sinh học giúp nâng năng suất, đồng thời hạn chế nguy cơ dịch bệnh. Nhờ thế, chăn nuôi gia cầm tiếp tục có lợi thế với chu kỳ sản xuất ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu thị trường tương đối ổn định.
Tuy nhiên, Cục Thống kê cũng cho rằng, chi phí thức ăn và các yếu tố đầu vào tăng trở lại vẫn gây sức ép lên lợi nhuận, nhất là đối với các hộ nhỏ lẻ. Trong khi đó, đàn trâu, bò tiếp tục có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, diện tích chăn thả thu hẹp và chi phí thức ăn tăng. Song đáng chú ý, tại một số địa phương phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, đàn bò vẫn tăng, như Đồng Nai 3,5%, Lâm Đồng 3%, Nghệ An 2,5% và Đà Nẵng 1,2%. Điều này cho thấy chuyển đổi phương thức tổ chức sản xuất đang trở thành yếu tố quan trọng để nâng sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi.
Lâm nghiệp có diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 8 đạt 21,3 nghìn ha, giảm 4,9% so với cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6 triệu cây, giảm 4,8%. Nguyên nhân chủ yếu do kế hoạch trồng rừng của các địa phương và ảnh hưởng của nắng nóng. Trong khi đó, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.372,3 nghìn m³, tăng 4,4%; tính chung 8 tháng đạt 16.662,9 nghìn m³, tăng 6,5%. Sản lượng gỗ tăng cho thấy nhu cầu nguyên liệu cho chế biến vẫn duy trì, qua đó tạo động lực cho chuỗi lâm nghiệp - chế biến gỗ. Tuy nhiên, tăng khai thác phải đi cùng phát triển rừng bền vững để bảo đảm nguồn nguyên liệu dài hạn.
Thủy sản tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Sản lượng thủy sản tháng 8 đạt 991,3 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm nay, sản lượng đạt 6.949,4 nghìn tấn, tăng 3,8%; trong đó sản lượng cá đạt 4.816,3 nghìn tấn, tăng 2,6%, tôm đạt 1.184,2 nghìn tấn, tăng 7,4%.
Đáng chú ý, sản lượng thủy sản nuôi trồng 8 tháng đạt 4.253,9 nghìn tấn, tăng 6%. Sản lượng cá tra đạt 1.250,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm thẻ chân trắng đạt 806 nghìn tấn, tăng 8,7%; tôm sú đạt 230,2 nghìn tấn, tăng 4,2%. Tốc độ tăng cao của nuôi trồng cho thấy động lực phát triển của ngành đang chuyển mạnh sang những mô hình có khả năng kiểm soát tốt hơn về giống, môi trường, quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm.
![]() |
| Sản lượng thủy sản 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025. |
Sản lượng thủy sản khai thác 8 tháng đạt 2.695,5 nghìn tấn, chỉ tăng 0,7%; riêng khai thác biển đạt 2.581,1 nghìn tấn, tăng 0,8%. Mức chênh lệch này phản ánh xu hướng chuyển dịch rõ hơn sang nuôi trồng, đồng thời cho thấy dư địa tăng trưởng trong khai thác tự nhiên không còn lớn nếu chỉ dựa vào mở rộng sản lượng. Nâng hiệu quả, kiểm soát nguồn lợi và phát triển nuôi trồng bền vững sẽ là hướng đi quan trọng để ngành thủy sản duy trì tốc độ tăng trưởng.
Kết quả cho thấy khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đang duy trì đà tăng trưởng với động lực ngày càng đa dạng. Trong khi trồng trọt chịu sức ép từ thời tiết, nước tưới và chuyển đổi đất, thì chăn nuôi, khai thác gỗ và đặc biệt là nuôi trồng thủy sản lại đang tạo lực đỡ quan trọng. Diện tích lúa giảm vì chuyển đổi cơ cấu không nhất thiết đồng nghĩa với suy giảm năng lực sản xuất, mà phản ánh yêu cầu sử dụng đất hiệu quả hơn và nâng giá trị kinh tế trên cùng diện tích.
Những tháng cuối năm, bảo đảm nguồn nước, chủ động phòng chống thiên tai và dịch bệnh, kiểm soát chi phí đầu vào, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường liên kết sản xuất sẽ có ý nghĩa quyết định. Cùng với đó, cần tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, nâng giá trị chế biến gỗ và thúc đẩy nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghệ cao, bền vững, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.
Với các kết quả tích cực đã đạt được trong chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ đà tăng trưởng cuối năm, tạo nền tảng quan trọng vào ổn định sản xuất và tăng trưởng chung. Để duy trì đà tăng trưởng này, ngành cần tiếp tục thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng hiệu quả đất và nước, kiểm soát chi phí và chuyển mạnh từ tăng sản lượng sang nâng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.




