Nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Chức năng, nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được quy định tại Điều 5 Nghị định số 41/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Nghị định số 41/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 25.1.2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.
Điều 5 nêu chức năng, nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:
Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản có chức năng hỗ trợ cho các chương trình, dự án, hoạt động phi dự án về lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản không nằm trong kế hoạch ngân sách trên phạm vi toàn quốc.
- Nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản bao gồm:
Vận động, tiếp nhận và quản lý nguồn đóng góp tự nguyện, tài trợ, từ thiện, ủy thác của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;
Tổ chức thẩm định, quyết định hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu kết quả chương trình, dự án, hoạt động phi dự án do Quỹ hỗ trợ;
Thực hiện quy định về tài chính, kế toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán và pháp luật có liên quan;
Chấp hành việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Điều 6 nêu cơ cấu tổ chức của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:
- Tên gọi của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được quy định:
Quỹ ở trung ương là Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Việt Nam (sau đây gọi là Quỹ trung ương);
Quỹ cấp tỉnh là “Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh [tên tỉnh, thành phố]” (sau đây gọi là Quỹ cấp tỉnh).
- Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản hoạt động kiêm nhiệm và được quy định:
Quỹ trung ương: Bộ máy quản lý Quỹ sử dụng công chức, viên chức, người lao động thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định;
Quỹ cấp tỉnh: Bộ máy quản lý Quỹ sử dụng công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định.
Điều 7 nêu cơ chế hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản:
Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng và Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Quỹ trung ương có trách nhiệm:
Quản lý và sử dụng nguồn tài chính theo quy định tại Điều 8 Nghị định này (quản lý, sử dụng tài chính của Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản).
Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí do Quỹ trung ương hỗ trợ;
Hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về nghiệp vụ quản lý và hoạt động của Quỹ;
Hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật cho Quỹ cấp tỉnh, Quỹ cộng đồng thông qua các chương trình, dự án, hoạt động phi dự án (nếu có).
- Quỹ cấp tỉnh có trách nhiệm:
Quản lý và sử dụng nguồn tài chính theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.
Hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật cho Quỹ cộng đồng thông qua các chương trình, dự án, hoạt động phi dự án;
Tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài chính, hỗ trợ kỹ thuật từ Quỹ trung ương (nếu có);
Chịu sự kiểm tra, giám sát của Quỹ trung ương đối với nguồn vốn do Quỹ trung ương hỗ trợ.




















