A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tích lũy, tiêu dùng và yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng Việt Nam

Bài viết phân tích quan hệ tích lũy - tiêu dùng nhằm làm rõ yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn mới, bám sát định hướng đổi mới mô hình phát triển theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Trên cơ sở kết hợp lý thuyết vĩ mô với phân tích các cân đối lớn về tiết kiệm, đầu tư và cầu nội địa, nghiên cứu chỉ ra rằng cốt lõi vấn đề không nằm ở tỷ trọng tích lũy hay tiêu dùng trong GDP, mà ở chất lượng tích lũy, hiệu quả phân bổ vốn và khả năng chuyển hóa thành quả tăng trưởng thành thu nhập thực tế cho người dân. Theo đó, tái cân bằng mô hình tăng trưởng không phải là cắt giảm đầu tư để cơ học tăng tiêu dùng, mà là tái cấu trúc dòng vốn vào các lĩnh vực có năng suất và sức lan tỏa cao. Đây cũng chính là tiền đề để phát triển tiêu dùng bền vững dựa trên việc làm, thu nhập, an sinh xã hội và niềm tin thị trường. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công/khoa học công nghệ, phát triển thị trường vốn dài hạn, cải thiện phân phối thu nhập và củng cố vững chắc quy mô thị trường nội địa.

Trần Thị Lan Hương

Đại học Kinh tế Quốc dân; Email: [email protected]

TỪ CÂN ĐỐI TÍCH LŨY - TIÊU DÙNG ĐẾN TÁI CÂN BẰNG MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Nghị quyết số 19-NQ/TW đòi hỏi chuyển dịch căn bản mô hình phát triển: từ dựa vào vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên sang dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Yêu cầu này bắt buộc phải tái cấu trúc toàn bộ quá trình huy động, phân bổ nguồn lực vào các ngành có giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao; đồng thời đổi mới quan hệ phân phối nhằm đảm bảo công bằng, chuyển hóa thành quả tăng trưởng thành chất lượng sống của người dân (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Trong bối cảnh đó, cân đối tích lũy – tiêu dùng giữ vai trò then chốt. Việt Nam một mặt cần duy trì quy mô tích lũy đủ lớn cho hạ tầng, công nghệ, nhân lực và chuyển đổi xanh/số nhằm tạo nền tảng nâng cao năng suất dài hạn. Mặt khác, trước những biến động khó lường của cầu ngoại và xu hướng bảo hộ gia tăng, nền kinh tế không thể phụ thuộc mãi vào xuất khẩu, mà phải biến thị trường nội địa hơn 100 triệu dân thành điểm tựa tăng trưởng thực chất.

Thực tế này đặt ra một bài toán vĩ mô phức tạp. Nếu đầu tư tăng nhanh nhưng thu nhập và sức mua nội địa không gia tăng tương ứng, năng lực sản xuất mở rộng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt tổng cầu. Sự gia tăng lượng vốn khi đó chỉ làm suy giảm hiệu suất, tạo ra tình trạng dư thừa công suất và triệt tiêu động lực đầu tư mới. Ngược lại, kích cầu tiêu dùng dựa chủ yếu vào đòn bẩy tín dụng, bong bóng tài sản hay hàng nhập khẩu sẽ gia tăng rủi ro tài chính và đe dọa ổn định vĩ mô. Do đó, tái cân bằng mô hình tăng trưởng không phải là sự dịch chuyển cơ học từ tích lũy sang tiêu dùng. Bản chất vấn đề nằm ở việc nâng cao chất lượng tích lũy, tạo dựng nền tảng tiêu dùng bền vững và gắn kết chặt chẽ chuỗi liên kết: đầu tư - năng suất - thu nhập và sức mua. Cách tiếp cận này đòi hỏi nghiên cứu tập trung làm rõ đặc trưng của quan hệ tích lũy, tiêu dùng ở Việt Nam, nhận diện những mất cân đối nội tại đằng sau các biến số vĩ mô, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp thực thi tái cân bằng mô hình tăng trưởng.

NHẬN DIỆN QUAN HỆ TÍCH LŨY - TIÊU DÙNG TRONG MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VIỆT NAM

Quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng ở Việt Nam cần được nhìn nhận trong cấu trúc của một nền kinh tế có độ mở rất cao, tăng trưởng dựa đáng kể vào đầu tư và xuất khẩu. Mô hình này đã góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, thu hút vốn nước ngoài và mở rộng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, khi môi trường thương mại quốc tế trở nên khó dự báo, những hạn chế của mô hình tăng trưởng thiên về cầu bên ngoài và mở rộng vốn ngày càng bộc lộ rõ hơn. Vấn đề đặt ra không phải là Việt Nam tích lũy quá nhiều hay tiêu dùng quá ít theo một chuẩn mực cố định, mà là hiệu quả của tích lũy, sức mạnh thực chất của cầu trong nước và mối liên hệ giữa hai thành tố này.

Quy mô tích lũy cao nhưng hiệu quả chuyển hóa thành năng lực phát triển còn hạn chế

Việt Nam duy trì tỷ lệ đầu tư tương đối cao trong nhiều năm. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2025), tổng đầu tư dao động quanh mức 30-33% GDP trong giai đoạn 2021-2024. Đây là tỷ lệ phù hợp với một nền kinh tế đang trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng. Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư cao chỉ là điều kiện cần. Tác động cuối cùng đối với tăng trưởng còn phụ thuộc vào việc vốn được phân bổ vào đâu, thời gian đưa tài sản vào sử dụng và năng suất được tạo ra sau đầu tư.

Tích lũy tiêu dùng và yêu cầu tái cân bằng

Nguồn: IMF 2025 Article IV Consultation- Báo cáo Tham vấn Điều khoản IV của IMF (2025)
Tích lũy  tiêu dùng và yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng Việt Nam
Nguồn: Cục Thống kê (2025, 2026). Số liệu sáu tháng đầu năm 2026 được so sánh với cùng kỳ năm 2025

Bảng 1 cho thấy hai biến động đáng chú ý. Thứ nhất, tổng đầu tư giảm từ 32,9% GDP năm 2021 xuống 30,6% năm 2024, chủ yếu do tỷ trọng đầu tư tư nhân giảm. Thứ hai, tiết kiệm quốc gia tăng nhanh hơn đầu tư, làm xuất hiện khoảng chênh lệch lớn trong hai năm 2023-2024. Về mặt hạch toán vĩ mô, tiết kiệm cao hơn đầu tư thường gắn với thặng dư cán cân vãng lai. Thặng dư này giúp củng cố vị thế đối ngoại, nhưng nếu kéo dài trong khi đầu tư tư nhân và cầu trong nước chưa đủ mạnh, nó cũng có thể phản ánh việc một phần nguồn lực trong nước chưa được chuyển hóa đầy đủ thành đầu tư sản xuất và tiêu dùng nội địa. Khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư không nên được diễn giải một chiều là Việt Nam “tiết kiệm quá mức”. Báo cáo của IMF cho thấy số liệu khu vực đối ngoại của Việt Nam còn có sai số đáng kể. Riêng khoản sai số và bỏ sót năm 2024 tương đương 6,9% GDP. Vì vậy, điều đáng quan tâm hơn là xu hướng suy giảm tương đối của đầu tư tư nhân và khả năng chuyển nguồn tiết kiệm thành vốn dài hạn cho nền kinh tế thực. Thị trường tài chính hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. IMF ước tính tín dụng ngân hàng tại Việt Nam đã tương đương khoảng 136% GDP năm 2024, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các định chế đầu tư dài hạn còn hạn chế (IMF, 2025). Nền kinh tế vì thế rơi vào tình trạng khá đặc biệt: nhu cầu vốn dài hạn cho hạ tầng, công nghệ và chuyển đổi xanh rất lớn, nhưng nguồn vốn lại chủ yếu được cung ứng qua hệ thống tín dụng với kỳ hạn ngắn hơn. Một phần tiết kiệm trong dân cư tiếp tục đi vào đất đai, vàng và các tài sản tích trữ. Giá trị tài sản có thể tăng, nhưng năng lực sản xuất mới được tạo ra không tương xứng.

Tiêu dùng phục hồi nhưng chưa trở thành điểm tựa đủ mạnh

Xét theo phương pháp sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng vẫn đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng. Năm 2024, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,57% và đóng góp 66,03% vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 7,20% (Cục Thống kê, 2025). Sang năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95%, đóng góp 66,54% vào tăng trưởng, trong khi tích lũy tài sản tăng 8,68% (Cục Thống kê, 2026). Sáu tháng đầu năm 2026, khoảng cách mở rộng rõ rệt khi tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15%, còn tích lũy tài sản tăng 15,20% so với cùng kỳ năm trước (Cục Thống kê, 2026). Các con số trên cho thấy tiêu dùng đã phục hồi khá tích cực. Vì vậy, sẽ không chính xác nếu nhận định cầu trong nước đang suy yếu trên mọi phương diện. Tuy nhiên, tốc độ tăng tích lũy tài sản vượt xa tiêu dùng trong nửa đầu năm 2026 cho thấy động lực tăng trưởng đang nghiêng mạnh về phía đầu tư. Điều này có thể được giải thích một phần bởi việc đẩy nhanh đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn. Trong ngắn hạn, đây là lực đẩy cần thiết nhưng nếu đầu tư tăng nhanh kéo dài mà thu nhập và sức mua không được cải thiện tương xứng, năng lực cung được mở rộng có thể vượt quá khả năng hấp thụ của thị trường nội địa.

Thặng dư đối ngoại cao cũng phản ánh giới hạn của cầu trong nước

Cán cân vãng lai đảo chiều từ thâm hụt 2,2% GDP (2021) sang thặng dư 6,4% (2023) và 6,6% (2024), phản ánh không chỉ đà tăng xuất khẩu mà cả sự suy yếu của nhập khẩu lẫn cầu nội địa sau các cú sốc tài chính—bất động sản (IMF, 2025). Dù giúp củng cố vùng đệm chống chịu cho nền kinh tế mở, việc thặng dư cao đi kèm đầu tư tư nhân sụt giảm cho thấy nguồn tiết kiệm chưa được hấp thụ hiệu quả. IMF khuyến nghị Việt Nam tái cân bằng mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao cầu nội địa và đa dạng hóa xuất khẩu (IMF, 2025). Tuy nhiên, rào cản tiêu dùng nằm ở thu nhập chưa ổn định, tỷ lệ lao động phi chính thức cao và áp lực chi tiêu thiết yếu (nhà ở, giáo dục, y tế).

Trong bối cảnh an sinh xã hội còn hạn chế, tiết kiệm phòng ngừa là lựa chọn tất yếu của hộ gia đình; do đó, kích cầu bền vững đòi hỏi tập trung vào việc làm, thu nhập thực và củng cố niềm tinThay vì các giải pháp ngắn hạn như giảm thuế hay nới lỏng tín dụng.

Tích lũy, tiêu dùng và yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng Việt Nam

Nguồn:Tổng Cục Thống kê các năm

Hình 1 ghi nhận sự chệch pha rõ nét trong chu kỳ vận động giữa tích lũy và tiêu dùng giai đoạn 2015 – 6 tháng đầu năm 2026. Nếu trong giai đoạn 2015–2019, chênh lệch tốc độ tăng giữa tích lũy tài sản và tiêu dùng cuối cùng chỉ ở mức 1,57 % điểm (8,92% so với 7,35%), thì đến nửa đầu năm 2026, khoảng cách này đã mở rộng đột biến lên 7,05 % điểm, khi tích lũy tài sản bứt phá mạnh lên 15,20% trong khi tiêu dùng tăng 8,15%. Sự gia tăng vượt trội của tích lũy phản ánh nỗ lực đẩy mạnh đầu tư mở rộng năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc tốc độ tăng tiêu dùng phục hồi chậm hơn đáng kể so với tích lũy và bám sát tốc độ tăng GDP (8,14%) cho thấy sức hấp thụ của thị trường nội địa chưa thực sự bứt phá. Điều này đặt ra áp lực tái cân bằng cơ cấu: nếu hiệu quả đầu tư không tạo ra chuyển hóa tương ứng thành thu nhập thực tế và sức mua bền vững của người dân, năng lực cung mới được tạo ra sẽ đối mặt với rủi ro thiếu hụt cầu nội địa.

Tích lũy, tiêu dùng và yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng Việt Nam
Nguồn:Tổng Cục Thống kê các năm

Hình 2 phác họa bức tranh cơ cấu sử dụng GDP theo giá hiện hành của Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2025 với mức độ ổn định cao về tỷ trọng các cấu phần vĩ mô. Tiêu dùng cuối cùng liên tục duy trì quanh mốc 63% đến gần 64% GDP (cụ thể từ 63,12% đến 63,82%), trong khi tổng tích lũy tài sản chiếm xấp xỉ một phần ba quy mô nền kinh tế, tăng nhẹ từ 32,18% năm 2020 lên 33,85% vào năm 2025. Sự duy trì liên tục của tỷ trọng đầu tư cao phản ánh nỗ lực kiên định trong việc bồi đắp năng lực sản xuất và hạ tầng. Tuy nhiên, việc tỷ trọng tiêu dùng đi ngang trong bối cảnh tích lũy gia tăng đặt ra bài toán cốt lõi: nguồn lực đầu tư lớn cần được tối ưu hóa năng suất biên để tạo ra thu nhập thực chất, qua đó củng cố sức mua nội địa và hoàn thiện vòng tuần hoàn tăng trưởng bền vững.

Những mất cân đối nằm phía sau các biến số vĩ mô

Từ các chỉ báo trên có thể nhận diện 4 vấn đề. Một là, tiết kiệm tương đối cao nhưng các kênh chuyển hóa thành vốn dài hạn còn yếu. Hai là, nền kinh tế duy trì cường độ đầu tư lớn nhưng hiệu quả giữa các ngành, dự án và khu vực còn chênh lệch. Ba là, tiêu dùng đóng góp lớn vào tăng trưởng nhưng nền tảng thu nhập và an sinh của một bộ phận dân cư chưa đủ vững. Bốn là, mô hình tăng trưởng vẫn nhạy cảm với xuất khẩu, FDI và biến động của các thị trường bên ngoài.

Như vậy, điểm nghẽn chính không nằm ở việc Việt Nam thiếu tiết kiệm hay thiếu nhu cầu đầu tư. Nền kinh tế có thể đồng thời thiếu vốn dài hạn cho các lĩnh vực tạo năng suất và dư thừa nguồn lực trong những tài sản ít đóng góp cho sản xuất. Đây không phải là nghịch lý về quy mô nguồn lực, mà là vấn đề của thị trường vốn, chất lượng phân bổ, quan hệ phân phối và niềm tin. Chính tại những mắt xích này, yêu cầu tái cân bằng mô hình tăng trưởng cần được đặt ra.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH: THIẾT LẬP QUAN HỆ TÍCH LŨY - TIÊU DÙNG CÓ KHẢ NĂNG BỔ TRỢ LẪN NHAU

Tái cân bằng mô hình tăng trưởng đòi hỏi một hệ thống chính sách đồng bộ hơn là những biện pháp kích thích đầu tư hoặc tiêu dùng riêng lẻ. Trọng tâm chính sách phải chuyển từ mở rộng quy mô nguồn lực sang nâng cao chất lượng sử dụng nguồn lực; từ hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn sang tạo dựng thu nhập và sức mua bền vững; từ điều hành từng thị trường riêng biệt sang xử lý mối liên hệ giữa đầu tư, năng suất, phân phối và tiêu dùng.

Chuyển từ gia tăng tỷ lệ đầu tư sang nâng cao chất lượng tích lũy

Dù vẫn cần duy trì quy mô đầu tư đủ lớn cho hạ tầng và năng lực sản xuất, mô hình tăng trưởng của Việt Nam không thể tiếp tục dựa thuần túy vào mở rộng vốn mà phải chuyển sang cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và hiệu ứng lan tỏa. Việc đánh giá các dự án, đặc biệt là đầu tư công, cần vượt khỏi các chỉ tiêu hành chính như tỷ lệ giải ngân hay quy mô tài sản để tập trung vào khả năng giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy liên kết vùng và thu hút vốn tư nhân. Theo đó, đầu tư công phải đóng vai trò dẫn dắt thay vì lấn át khu vực tư, ưu tiên cho hạ tầng kết nối, hạ tầng số, năng lượng, logistics và thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời siết chặt quản lý chi phí, tiến độ và năng lực vận hành. Quan điểm lấy hiệu quả làm thước đo trong Nghị quyết số 19-NQ/TW cần được cụ thể hóa thành khung chỉ tiêu định lượng, bởi chất lượng tăng trưởng được quyết định bởi năng suất, giá trị gia tăng và thu nhập do một đơn vị vốn mới tạo ra chứ không nằm ở quy mô vốn bổ sung.

Khơi thông tiết kiệm thành nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế thực

Sự lệch pha giữa cầu vốn dài hạn và nguồn cung ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đang tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn và gia tăng áp lực tín dụng mỗi khi kích thích tăng trưởng. Trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/ GDP đã vượt ngưỡng an toàn, dư địa mở rộng tín dụng không còn nhiều (IMF, 2025). Hệ thống tài chính do đó cần đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường vốn về cả quy mô lẫn chiều sâu. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần tái lập đà phát triển dựa trên tính minh bạch, xếp hạng tín nhiệm chuẩn xác và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư; thị trường cổ phiếu phải khôi phục đúng vai trò kênh huy động vốn dài hạn thay vì đầu cơ ngắn hạn. Song song đó, việc mở rộng các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư và sản phẩm bảo hiểm sẽ giúp đa dạng hóa kênh dẫn vốn theo các mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau.

Mục tiêu cốt lõi không phải là cấm đoán việc tích trữ vàng, ngoại tệ hay bất động sản, mà là tạo ra các công cụ đầu tư dài hạn đủ an toàn và hấp dẫn để thu hút dòng tiền nhàn rỗi vào sản xuất. Một môi trường bảo đảm quyền tài sản, vận hành kỷ luật và ổn định vĩ mô sẽ tự khắc tạo động lực chuyển dịch nguồn lực từ tích trữ sang đầu tư thực chất.

Mở rộng tiêu dùng bằng thu nhập, không bằng sự gia tăng thiếu kiểm soát của tín dụng

Kích thích tiêu dùng bằng tín dụng chỉ mang lại tăng trưởng ngắn hạn và không thể thay thế tăng trưởng thu nhập thực. Thiếu sự gia tăng thu nhập tương ứng, việc vay nợ tiêu dùng thực chất là “ứng trước” sức mua tương lai, làm gia tăng gánh nặng nợ hộ gia đình và dễ gây sụt giảm tiêu dùng đột ngột khi chu kỳ tín dụng đảo chiều, đe dọa ổn định tài chính. Cầu nội địa bền vững phải tựa trên nền tảng việc làm năng suất cao và thu nhập ổn định. Điều này đòi hỏi chính sách tiền lương gắn liền với năng suất, đi kèm sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nội, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị và mở rộng việc làm chính thức. Song song đó, cần hạ bớt chi phí thiết yếu đang bào mòn thu nhập khả dụng. Giá nhà đất vượt quá khả năng chi trả cùng gánh nặng chi phí y tế, giáo dục và di chuyển đang trực tiếp chèn ép các khoản tiêu dùng khác. Vì vậy, đầu tư cho nhà ở xã hội, giao thông công cộng, y tế và giáo dục không đơn thuần là chính sách an sinh, mà là cấu phần chiến lược để phát triển thị trường trong nước.

Củng cố an sinh xã hội để giảm tiết kiệm phòng ngừa

Lý thuyết thu nhập dài hạn và vòng đời cho thấy người dân không quyết định tiêu dùng chỉ dựa trên thu nhập hiện tại, mà còn dựa vào kỳ vọng về việc làm, sức khỏe và thu nhập khi về già (Friedman, 1957; Modigliani & Brumberg, 1954). Khi các rủi ro này khó dự báo hoặc phần lớn chi phí phải do hộ gia đình tự trang trải, tiết kiệm phòng ngừa sẽ tăng. Trong trường hợp đó, các biện pháp kích cầu thông thường khó tạo ra hiệu quả lâu dài.

Việt Nam cần tiếp tục mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, nhất là đối với lao động phi chính thức và lao động trên các nền tảng số. Hệ thống hưu trí cần được phát triển theo hướng đa tầng, kết hợp giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và các chương trình hưu trí bổ sung. Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh, việc xây dựng hệ thống chăm sóc dài hạn và phát triển các sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi không thể tiếp tục trì hoãn.

Cần nhìn nhận chi cho an sinh xã hội theo tinh thần của Nghị quyết số 19-NQ/TW: đầu tư cho an sinh là đầu tư cho phát triển (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Một hệ thống an sinh đáng tin cậy vừa bảo vệ người dân trước rủi ro, vừa củng cố niềm tin và làm giảm nhu cầu tích trữ phòng ngừa. Đây chính là điểm gặp nhau giữa mục tiêu công bằng xã hội và yêu cầu mở rộng cầu trong nước.

Sử dụng chính sách tài khóa để đồng thời củng cố năng lực cung và sức cầu

Khi dư địa nới lỏng tiền tệ bị thu hẹp bởi rủi ro tỷ giá, lạm phát và tài chính, chính sách tài khóa phải đóng vai trò nòng cốt trong điều tiết chu kỳ và tái cân bằng tăng trưởng. IMF (2025) nhận định Việt Nam còn dư địa tài khóa, đồng thời khuyến nghị phản ứng linh hoạt nếu kinh tế suy giảm, đi kèm cải thiện quản lý đầu tư công và củng cố an sinh xã hội.

Tuy nhiên, mở rộng tài khóa không đơn thuần là tăng chi tiêu. Chất lượng và cơ cấu chi có ý nghĩa quyết định: đầu tư hạ tầng chiến lược giúp mở rộng năng lực cung, trong khi chi cho y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội vừa nâng cao vốn con người vừa hỗ trợ tổng cầu. Khi kích cầu tiêu dùng, các gói hỗ trợ cần nhắm đúng nhóm thu nhập thấp và dễ bị tổn thương, là những đối tượng có khuynh hướng tiêu dùng biên cao nhất.

Song song đó, chính sách thuế cần tái thiết kế để khuyến khích sản xuất, hạn chế đầu cơ; mở rộng cơ sở thuế, kiểm soát nguồn thu từ tài sản và chống chuyển giá nhằm tạo nguồn lực cho đầu tư và an sinh.

Cải thiện phân phối thu nhập và mở rộng tầng lớp trung lưu

Phân phối thu nhập đóng vai trò then chốt nhưng thường bị bỏ ngỏ trong phân tích mối quan hệ tích lũy – tiêu dùng. Nếu tăng trưởng chủ yếu rơi vào nhóm có xu hướng tiết kiệm cao, sức mua nội địa khó bứt phá. Trái lại, phân phối thành quả tăng năng suất hợp lý sẽ thúc đẩy tiêu dùng bền vững mà không đe dọa ổn định tài chính. Cải thiện phân phối không phải là bình quân hóa thu nhập hay triệt tiêu động lực làm giàu chính đáng, mà là đảm bảo bình đẳng cơ hội (giáo dục, y tế, việc làm, tài sản sản xuất), minh bạch hóa môi trường cạnh tranh và triệt tiêu lợi ích nhóm từ độc quyền, đầu cơ. Một tầng lớp trung lưu đông đảo, tài chính vững vàng chính là trụ cột của thị trường trong nước.

Đổi mới phân phối theo hướng hiệu quả, công bằng và bao trùm (như tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW) vì vậy không thuần túy là mục tiêu xã hội, mà là điều kiện kinh tế tiên quyết để kết nối sản xuất với sức mua, giảm phụ thuộc vào cầu ngoại và củng cố nội lực quốc gia.

Đổi mới hệ thống thống kê và giám sát quan hệ tích lũy - tiêu dùng

Việc điều hành hiện nay chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu tổng hợp như tỷ lệ đầu tư toàn xã hội/GDP, tăng trưởng tổng mức bán lẻ hoặc tăng trưởng tín dụng. Những chỉ tiêu này cần thiết nhưng chưa đủ để nhận diện chất lượng tích lũy và độ bền vững của tiêu dùng. Hệ thống thống kê cần cung cấp đầy đủ hơn số liệu tiết kiệm theo khu vực thể chế và nhóm thu nhập. Với đầu tư công, cần công bố không chỉ tỷ lệ giải ngân mà cả tiến độ hoàn thành, thời gian đưa công trình vào sử dụng và tác động kinh tế – xã hội sau đầu tư. Tất cả các điều này để hướng tới mục tiêu cuối cùng không phải đạt một tỷ lệ tích lũy hay tiêu dùng được xác định trước, mà là bảo đảm nguồn lực được chuyển thành năng suất, thu nhập và chất lượng sống với hiệu quả ngày càng cao.

KẾT LUẬN

Mối quan hệ tích lũy – tiêu dùng phản ánh cách phân bổ nguồn lực giữa hiện tại và tương lai. Với Việt Nam, mấu chốt không nằm ở tỷ lệ chia tách, mà ở chất lượng tích lũy, nền tảng tiêu dùng và cơ chế kết nối 2 yếu tố này. Tích lũy cao vẫn cần thiết cho hạ tầng, công nghệ, nhân lực và chuyển đổi xanh/số, nhưng chỉ có giá trị khi chuyển hóa thành năng lực sản xuất và năng suất; việc vốn chảy vào đầu cơ hay dự án kém hiệu quả sẽ triệt tiêu động lực dài hạn.

Ở chiều ngược lại, mở rộng tiêu dùng để giảm phụ thuộc cầu ngoại phải dựa trên thu nhập thực, việc làm và an sinh, thay vì đòn bẩy tín dụng hay bong bóng tài sản. Tái cân bằng tăng trưởng không phải dịch chuyển cơ học GDP từ tích lũy sang tiêu dùng, mà là tái cấu trúc cả hai để tạo ra một vòng tuần hoàn khép kín. Trong đó, tích lũy hiệu quả nâng cao năng suất, năng suất gia tăng tạo thêm việc làm và thu nhập, thu nhập cải thiện giúp mở rộng tiêu dùng, sức mua lớn mạnh củng cố quy mô thị trường, và một thị trường phát triển tiếp tục tạo động lực cho các khoản đầu tư mới. Khi đó, tích lũy và tiêu dùng sẽ tương hỗ thay vì triệt tiêu lẫn nhau./.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

2. Cục Thống kê. (2025). Thông cáo Báo chí về tình hình Kinh tế- xã hội quý IV và năm 2024, https://www.nso.gov.vn/dulieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2024/

3. Cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình Kinh tế- xã hội quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieuthong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/

4. Cục Thống kê. (2026). Thông cáo Báo chí về tình hình Kinh tế- xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-ii-va-sau-thang-dau-nam-2026/

5. Friedman, M. (1957). A theory of the consumption function. Princeton University Press.

6. International Monetary Fund. (2025). Vietnam: 2025 Article IV consultation-Press release; staff report; and statement by the Executive Director for Vietnam (IMF Country Report No. 25/283). https://www.imf.org/-/media/files/publications/cr/2025/english/1vnmea2025001-source-pdf.pdf.

7. Modigliani, F., & Brumberg, R. (1954). Utility analysis and the consumption function: An interpretation of cross-section data. Trong K. K. Kurihara (Chủ biên), Post-Keynesian economics (tr. 388–436). Rutgers University Pres.

Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 9/2026
Trần Thị Lan Hương

Các tin khác

Tin nổi bật