Trần Quang Trung
Nguyễn Thị Ngọc Khánh
Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
Email: [email protected]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, khu vực KTNN, trong đó lực lượng nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn có hạn chế về hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh quốc tế, chưa phát huy đầy đủ vai trò và tiềm năng vốn có, chưa thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt các ngành, lĩnh vực chiến lược của đất nước. Những tồn tại này đòi hỏi phải có những thay đổi mang tính hệ thống cả về tư duy, thể chế và phương thức tổ chức thực hiện.
SỰ CHUYỂN DỊCH TRONG QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG SẮP XẾP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DNNN QUA CÁC THỜI KỲ
Chủ trương, quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của DNNN đã có những thay đổi qua các kỳ đại hội cùng với quá trình đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng, sự phát triển của nền kinh tế, của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Các cột mốc về quan điểm, chủ trương của Đảng đối với khu vực DNNN được thể hiện rõ qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1991-2001
Bắt đầu từ Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11/1991), chủ trương của Đảng về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN được xác định và một trong những nhiệm vụ đề ra là nâng cao hiệu quả kinh tế quốc doanh, sắp xếp lại, củng cố, tăng cường khu vực kinh tế quốc doanh, tiếp tục đổi mới kinh tế tập thể, loại bỏ những trở ngại đang kìm hãm các thành phần kinh tế khác, tạo ra sức bật mới từ các nguồn lực trong nước để ổn định và phát triển sản xuất. Từ năm 1992, Việt Nam bắt đầu thực hiện thí điểm cổ phần hóa một số xí nghiệp quốc doanh và tiếp tục quá trình cổ phần hóa cho đến nay.
Sau 10 năm thực hiện đến năm 2001, dù đã giảm mạnh từ trên 12.000 doanh nghiệp xuống còn hơn 5.800 doanh nghiệp, DNNN vẫn chi phối các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế; chiếm tỉ trọng lớn trong GDP, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài; tuy nhiên, DNNN cũng còn những hạn chế như quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.
Giai đoạn 2001-2016
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết lần thứ 2 Trung ương khóa VII, Đảng đã ban hành Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN (tháng 8/2001) trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng hơn với kinh tế thế giới, sau khi ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX đặt ra 4 quan điểm cho giai đoạn mới, cụ thể: (i) DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nhất là trong những ngành then chốt; (ii) Đổi mới DNNN là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới kinh tế; (iii) Phát triển DNNN phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả hoạt động; (iv) Cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu phải gắn với đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường giám sát vốn nhà nước.
Trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (2001-2016), số lượng DNNN đã giảm từ hơn 5.800 xuống còn gần 700 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đây là một kết quả có tính chất bước ngoặt, thể hiện sự nhất quán trong thực hiện quan điểm “giảm số lượng, nâng hiệu quả”. Đồng thời, hình thành nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn trong các lĩnh vực thiết yếu như năng lượng, viễn thông, tài nguyên, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Cổ phần hóa trở thành điểm nhấn, giúp thu hút vốn xã hội, cải thiện quản trị, tăng minh bạch và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy vậy, khu vực DNNN vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như hiệu quả và sức cạnh tranh chưa tương xứng với nguồn lực; còn tình trạng thua lỗ, thất thoát; quản trị chậm đổi mới, thiếu minh bạch; tiến trình cơ cấu lại và thoái vốn còn chậm; cơ chế đại diện chủ sở hữu và phân định chức năng quản lý chưa rõ ràng. Những bất cập này đặt ra yêu cầu tiếp tục cải cách mạnh mẽ về thể chế và quản trị trong giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 2017-2025
Ngày 3/6/2017, Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Nghị quyết đã khẳng định DNNN là một lực lượng vật chất quan trọng của KTNN, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng - an ninh.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021- 2030 được Đại hội Đảng XIII thông qua tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả DNNN gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ và quản trị theo chuẩn mực quốc tế; đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, hoàn tất sắp xếp lại khu vực DNNN; đồng thời sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa để đầu tư hạ tầng trọng điểm và củng cố các doanh nghiệp then chốt.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tiếp tục khẳng định vai trò của doanh nghiệp trong nước, trong đó DNNN cùng khu vực tư nhân giữ vai trò động lực chủ đạo, dẫn dắt phát triển các ngành nền tảng, mũi nhọn và các lĩnh vực chiến lược.
Cùng với đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo khuôn khổ thúc đẩy liên kết, huy động nguồn lực và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp đồng bộ.
Đặc biệt, trong bối cảnh thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các DNNN tiếp tục phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của DNNN trong nền kinh tế, bảo đảm DNNN là lực lượng tiên phong dẫn đầu trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phục hồi nền kinh tế.
BỨC TRANH TỔNG THỂ VỀ KHU VỰC DNNN
Qua quá trình sắp xếp, về số lượng, ngành nghề lĩnh vực hoạt động của DNNN tại Việt Nam đã được thu hẹp và có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt. Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, đến cuối năm 2023 có 841 doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước (không bao gồm các Ngân hàng thương mại nhà nước). Trong đó: DNNN bao gồm 671 doanh nghiệp, trong đó có: 473 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (gồm 139 doanh nghiệp trung ương và 334 doanh nghiệp địa phương) và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (gồm 34 doanh nghiệp trung ương và 164 doanh nghiệp địa phương).
So với năm 2017, số lượng doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã được cơ cấu lại theo hướng tinh gọn, giảm từ 526 xuống còn 473 doanh nghiệp vào năm 2024 (giảm hơn 10%); số doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ cũng giảm từ 222 xuống còn 198 doanh nghiệp.
Cùng với đó, DNNN ngày càng tập trung vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế như năng lượng, khai khoáng, viễn thông, kết cấu hạ tầng giao thông, nông nghiệp và dịch vụ công ích, qua đó góp phần bảo đảm các cân đối lớn và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Trong thời gian qua, DNNN tại Việt Nam đã khẳng định được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của Đất nước, thể hiện qua một số nội dung sau:
Một là, đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy tỷ trọng tổng tài sản và vốn chủ sở hữu và đóng góp cho GDP thấp hơn khối doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng giai đoạn 2017-2023 các DNNN đã đóng góp trung bình khoảng 34,2% tổng thu ngân sách nhà nước.
Hai là, số lượng DNNN chiếm trên 50% số lượng doanh nghiệp được xếp hạng Top 50 doanh nghiệp Việt Nam xuất sắc năm 2024.
Ba là, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo kết quả tính toán dựa trên số liệu của Cục Thống kê, DNNN có Hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE = Lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu) năm 2023 đạt 13,1%, cao nhất khu vực doanh nghiệp; doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ đạt 2,4% và doanh nghiệp FDI đạt 10,6%. ROE của DNNN có xu hướng tăng dần năm 2017 chỉ đạt 11%, đến năm 2023 đạt 13,1%. Hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA = Lợi nhuận trước thuế/Tổng tài sản) năm 2023 đạt mức 2,9%, cao thứ 2 sau doanh nghiệp FDI (4,1%) và cao hơn khối doanh nghiệp tư nhân đạt 0,8%.
Bốn là, hiệu suất sử dụng lao động được cải thiện, vượt mức trung bình của khu vực doanh nghiệp. Theo Sách trắng năm 2024, DNNN có hiệu suất sử dụng lao động cao nhất đạt 21,09 lần, tiếp đến là doanh nghiệp ngoài nhà nước, và thấp nhất là doanh nghiệp FDI với 13,88 lần. Bên cạnh đó, theo kết quả tính toán của Bộ Tài chính trên số liệu của Cục Thống kê, mặc dù tỷ trọng tổng doanh thu của khối DNNN thấp nhưng năng suất lao động (bằng doanh thu/tổng số lao động) của khu vực DNNN đều cao hơn rất nhiều so khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp FDI.
Năm là, xét về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Tuy khu vực DNNN có quy mô vốn chủ sở hữu và tài sản tăng chậm hơn các khu vực khác (do chính sách hạn chế phạm vi và trường hợp được đầu tư bổ sung vốn nhà nước vào doanh nghiệp), nhưng chất lượng tăng trưởng quy mô của DNNN tốt, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng tài sản và vốn chủ sở hữu.
Sáu là, DNNN có đóng góp quan trọng trong bảo đảm an ninh - quốc phòng, an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Dù chỉ chiếm khoảng 0,23% tổng số doanh nghiệp giai đoạn 2017-2023, khu vực này vẫn nắm giữ thị phần lớn trong các lĩnh vực thiết yếu, giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế.
Trong lĩnh vực năng lượng, năm 2024 tổng công suất điện đạt 82.400 MW, trong đó năng lượng tái tạo chiếm 26%; PVN giữ vai trò chủ lực trong chuỗi dầu khí và có vị thế cao trong khu vực; các DNNN chi phối hơn 84% thị phần bán lẻ xăng dầu, góp phần bảo đảm nguồn cung và ổn định thị trường.
Ở lĩnh vực viễn thông và công nghiệp quốc phòng, các doanh nghiệp như Viettel, VNPT, MobiFone chiếm thị phần áp đảo (trên 95%), bảo đảm hạ tầng thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số và phục vụ các nhiệm vụ chiến lược quốc gia.
Trong hạ tầng giao thông, vận tải và logistics, DNNN nắm giữ các kết cấu trọng yếu; riêng lĩnh vực hàng không, DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo, góp phần bảo đảm kết nối và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Bảy là, DNNN giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh - quốc phòng, thực hiện an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời tham gia phát triển các kết cấu hạ tầng thiết yếu như giao thông, năng lượng, viễn thông và nông nghiệp.
Trong lĩnh vực lương thực, các doanh nghiệp như Vinafood I, Vinafood II giữ vai trò chủ lực trong xuất khẩu gạo, bảo đảm an ninh lương thực và tham gia dự trữ, cứu trợ. Bên cạnh đó, DNNN tích cực triển khai các chương trình an sinh xã hội với quy mô lớn; giai đoạn 2017-2024, nhiều tập đoàn đóng góp hàng nghìn tỷ đồng, trong đó PVN khoảng 4.610 tỷ đồng, VNPT khoảng 5.237 tỷ đồng.
Đặc biệt, trong giai đoạn đại dịch COVID-19 và thiên tai, DNNN phát huy vai trò tuyến đầu khi cung cấp nền tảng số, giảm giá điện và viễn thông, hỗ trợ vận chuyển vật tư y tế, góp phần ổn định đời sống và sản xuất.
Nhìn chung, dù số lượng và quy mô tương đối thu hẹp, DNNN vẫn duy trì vai trò trụ cột thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động, đóng góp ngân sách và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn hạn chế về năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và mức độ tham gia vào các ngành công nghệ cao; năng lực cạnh tranh quốc tế chưa tương xứng, đòi hỏi tiếp tục cải cách mạnh mẽ để nâng cao vai trò dẫn dắt trong giai đoạn tới.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI
Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển KTNN, đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng trong cách tiếp cận vai trò của khu vực này. Theo đó, vai trò “chủ đạo” không còn được hiểu chủ yếu theo quy mô hay nguồn lực, mà được tái định nghĩa theo hướng định hướng, dẫn dắt và kiến tạo phát triển. KTNN không làm thay thị trường, mà tập trung vào những lĩnh vực thị trường không thể hoặc không làm hiệu quả, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản trị phát triển, trong đó KTNN thực hiện ba chức năng cốt lõi: bảo đảm an ninh kinh tế và các cân đối lớn, dẫn dắt các ngành chiến lược và kiến tạo hệ sinh thái phát triển, qua đó nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
Các lĩnh vực then chốt, chiến lược cần DNNN phát huy vai trò dẫn dắt
Trên cơ sở định hướng tại Nghị quyết số 79-NQ/ TW và danh mục các ngành công nghệ chiến lược của Việt Nam, có thể thấy rõ cấu trúc phát triển của KTNN, với trọng tâm là DNNN quy mô lớn trong giai đoạn tới tập trung vào một số ngành, lĩnh vực sau:
Trước hết là lĩnh vực năng lượng, DNNN đóng vai trò bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và dẫn dắt quá trình chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch, bền vững. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và yêu cầu giảm phát thải trở nên cấp thiết, việc phát triển các loại hình năng lượng tái tạo, năng lượng mới và hạ tầng năng lượng hiện đại không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh quốc gia và phát triển bền vững.
Tiếp theo là lĩnh vực kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải và logistics, đóng vai trò là nền tảng vật chất của nền kinh tế. Việc đầu tư và vận hành hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn tạo điều kiện kết nối các vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là lĩnh vực có đặc điểm vốn lớn, thời gian thu hồi dài và rủi ro cao, do đó đòi hỏi vai trò dẫn dắt của DNNN.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, lĩnh vực khoa học - công nghệ, viễn thông và hạ tầng số trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. DNNN cần đóng vai trò tiên phong trong phát triển hạ tầng số, làm chủ công nghệ chiến lược và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việc hình thành các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và xã hội số.
Bên cạnh đó, lĩnh vực tài chính - ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết dòng vốn và bảo đảm ổn định hệ thống tài chính. DNNN cần phát huy vai trò dẫn dắt trong việc cung cấp vốn cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên, đồng thời nâng cao năng lực quản trị và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Ngoài ra, các lĩnh vực khai thác và chế biến tài nguyên, công nghiệp nền tảng, nông nghiệp và an ninh lương thực cũng cần được chú trọng. Đây là những lĩnh vực gắn liền với an ninh kinh tế và ổn định xã hội, đòi hỏi sự tham gia của DNNN để bảo đảm phát triển bền vững và lâu dài.
Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả DNNN
Để phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong và định hướng chiến lược của KTNN, trọng tâm là DNNN cần tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, đồng thời phân định rõ chức năng của Nhà nước với chức năng của doanh nghiệp. Nhà nước tập trung vào xây dựng chính sách, định hướng và giám sát, trong khi doanh nghiệp được trao quyền tự chủ và trách nhiệm cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tăng quy mô. Việc hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao trong các ngành chiến lược sẽ tạo điều kiện để DNNN thực hiện tốt vai trò dẫn dắt, tạo động lực cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Thứ ba, một yếu tố then chốt khác là nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, cho phép doanh nghiệp chủ động đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết giữa DNNN với khu vực tư nhân, hình thành các chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển. KTNN không chỉ trực tiếp tạo ra giá trị, mà còn phải đóng vai trò kích hoạt và dẫn dắt các nguồn lực xã hội, tạo hiệu ứng lan tỏa trong toàn nền kinh tế.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79 NQ/TW ngày 6/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
- Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 4/2026 |

