|
| Việc ban hành Thông tư được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác quản lý tài sản kết cấu hạ tầng. |
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, việc xây dựng Thông tư được đánh giá là cần thiết, bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn.
Mục tiêu của Thông tư nhằm bổ sung hành lang pháp lý về chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao đối với TSKCHT do Nhà nước đầu tư, quản lý; qua đó làm cơ sở cho việc quản lý, khai thác, xử lý và hạch toán tài sản phù hợp với thực tế.
Về quan điểm xây dựng, dự thảo quán triệt chủ trương của Đảng về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đồng thời tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Bên cạnh đó, dự thảo cũng kế thừa có chọn lọc các quy định hiện hành về tài sản cố định tại cơ quan, đơn vị và các loại TSKCHT chuyên ngành, kết hợp với kết quả tổng kiểm kê năm 2025 để xây dựng quy định phù hợp. Nguyên tắc xuyên suốt là bảo đảm mọi tài sản đều được theo dõi, hạch toán đầy đủ cả về hiện vật và giá trị, đồng thời có cơ chế xử lý đối với các tài sản mang tính đặc thù.
Theo dự thảo, phạm vi điều chỉnh của Thông tư bao gồm chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao đối với TSKCHT là tài sản cố định và hướng dẫn kê khai, báo cáo. Đối tượng áp dụng là các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng, cơ quan quản lý chuyên ngành, các đơn vị được giao quản lý tài sản và các tổ chức thực hiện kế toán, lưu trữ.
Xác định rõ quy định quản lý tài sản cố định
Một nội dung quan trọng là quy định tiêu chuẩn nhận biết TSKCHT là tài sản cố định. Theo đó, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc quy định chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải, đường sắt, hàng không, Bộ Tài chính quy định, TSKCHT là tài sản sử dụng độc lập được xác định là một tài sản. Một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được thì hệ thống đó được xác định là một tài sản. Trường hợp một hệ thống được giao cho nhiều cơ quan quản lý thì phần tài sản được giao cho từng cơ quan là một tài sản.
Tài sản được xác định là tài sản cố định khi có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên và nguyên giá từ 30 triệu đồng trở lên.
Dự thảo cũng quy định rõ nguyên tắc quản lý tài sản. Theo đó, các đơn vị phải lập hồ sơ để quản lý chặt chẽ cả về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật về tài sản công. Đối với tài sản không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa tính đủ hao mòn hoặc chưa khấu hao hết, vẫn phải tiếp tục theo dõi, bảo quản và tính hao mòn cho đến khi được xử lý theo quy định, nhưng không trích khấu hao. Ngược lại, với tài sản đã tính đủ hao mòn hoặc khấu hao nhưng vẫn sử dụng được thì tiếp tục quản lý, không tính hao mòn và không trích khấu hao.
Đáng chú ý, dự thảo quy định cụ thể các trường hợp khai thác tài sản như chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác hoặc tham gia dự án đối tác công tư (PPP). Trong thời gian chuyển nhượng quyền khai thác, tài sản vẫn được theo dõi và tính hao mòn nhưng không trích khấu hao. Trường hợp chuyển giao quyền khai thác có thời hạn, đơn vị quản lý có trách nhiệm giám sát việc thực hiện hợp đồng, không tính hao mòn trong thời gian chuyển giao nhưng vẫn theo dõi nguyên giá trên sổ kế toán. Khi hết thời hạn, tài sản sẽ được xác định lại giá trị để tiếp tục quản lý theo quy định.
Đối với tài sản sử dụng để tham gia dự án PPP, đơn vị quản lý phải theo dõi, báo cáo phần tài sản tham gia dự án, không tính hao mòn, không trích khấu hao trong thời gian bàn giao cho nhà đầu tư, đồng thời tiếp tục theo dõi nguyên giá trên báo cáo tài chính. Khi tài sản được hoàn trả, giá trị còn lại sẽ được xác định lại làm cơ sở cho việc quản lý và hạch toán tiếp theo.


