|
| Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bảm bảo tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. |
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I ước tăng 7,83% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 tăng 1,23% so với tháng trước, bình quân quý I tăng 3,51% so với cùng kỳ, thấp hơn mục tiêu cả năm (khoảng 4,5%). Thị trường tiền tệ, ngoại tệ cơ bản ổn định; bảo đảm thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Thu ngân sách nhà nước tháng 3 ước đạt 219,3 nghìn tỷ đồng.
Kim ngạch xuất nhập khẩu quý I/2026 đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ. Giải ngân vốn đầu tư công quý I là 110,3 nghìn tỷ đồng, đạt 11% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 1,2% về tỷ lệ và khoảng 30 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2025.
Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 4, quý II và thời gian tới, Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan theo dõi sát diễn biến tình hình thế giới, chủ động phản ứng chính sách, thích ứng linh hoạt, phù hợp, hiệu quả đối với vấn đề phát sinh. Kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững.
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước; kiểm soát nợ công, bội chi ngân sách nhà nước; mở rộng cơ sở thu, chống thất thu. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, ngoài việc tiết kiệm 10% chi thường xuyên theo Nghị quyết số 245/2025/QH15 của Quốc hội, phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% chi thường xuyên, dành nguồn lực cho các nhiệm vụ an sinh xã hội, các dự án trọng điểm.
Tăng cường huy động các nguồn lực cho phát triển; triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao. Bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của từng dự án theo kế hoạch từng tháng, nhất là các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng, giao thông vận tải, dự án liên tỉnh, liên vùng, kết nối quốc gia, khu vực, quốc tế, các chương trình mục tiêu quốc gia được xác định là động lực tăng trưởng năm 2026 của cả nước, vùng và địa phương. Xây dựng, điều chỉnh, triển khai các chiến lược, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành quốc gia tích hợp, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện cho huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả.
Đồng thời, xây dựng, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp quan trọng; phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ. Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống; khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Vận hành đồng bộ, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam... Khẩn trương cụ thể hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao thành các hoạt động hợp tác gắn với thu hút FDI, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết; thúc đẩy đàm phán, ký kết các FTA mới, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng. Phát triển thị trường trong nước; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tổ chức các chương trình kích cầu tiêu dùng trong nước quy mô lớn.
Chủ động các giải pháp ứng phó linh hoạt, hiệu quả trước tác động của xung đột quân sự tại Trung Đông, không để bị động, bất ngờ; rà soát tổng thể, toàn diện các vấn đề “tự chủ chiến lược”, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện, xăng, dầu, hàng hóa thiết yếu trong mọi tình huống. Tổ chức sản xuất, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026. Phát triển điện mặt trời mái nhà; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi năng lượng xanh, đổi mới công nghệ, áp dụng các mô hình tuần hoàn, sử dụng bền vững tài nguyên, phát triển nguyên vật liệu tái chế, tái tạo, phát triển phương tiện giao thông xanh.


