![]() |
| Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng đạt gần 49,3 tỷ USD (Ảnh có sự hỗ trợ của AI). |
Tiến sát 50 tỷ USD, động lực tăng trưởng phân hóa
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực khi 8 tháng năm 2026 đạt gần 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này đưa ngành tiến sát mốc 50 tỷ USD, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu, cũng như cho thấy năng lực tham gia thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng được mở rộng.
Tuy nhiên, phía sau sự tăng trưởng, ngành cũng đang phải đối mặt với yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường. Trước đây giá cả, mẫu mã và chất lượng sản phẩm vẫn thường được xem là yếu tố quyết định đến khả năng bán hàng, thì nay các nhà mua hàng quốc tế còn quan tâm sâu hơn đến toàn bộ năng lực phía sau sản phẩm, từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng đến truy xuất nguồn gốc, logistics và khả năng duy trì nguồn cung ổn định.
Có thể thấy sự thay đổi này đang tạo ra một cuộc cạnh tranh mới. Ở đó các doanh nghiệp không chỉ cần có sản phẩm phù hợp mà còn phải chứng minh sản phẩm được tạo ra từ đâu, theo quy trình nào, có đáp ứng tiêu chuẩn hay không và có khả năng cung ứng ổn định trong thời gian dài.
Cơ cấu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng cho thấy, nông sản đạt khoảng 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Điều này đã cho thấy có sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng, dư địa của từng nhóm hàng đang khác nhau, đồng thời khẳng định tăng trưởng xuất khẩu không thể chỉ dựa vào gia tăng sản lượng.
Ở một khía cạnh khác nếu nhìn từ các hoạt động kết nối thương mại của ngành hàng sẽ cho thấy các nhà mua hàng đang ngày càng đi sâu vào tiêu chuẩn, truy xuất, năng lực sản xuất và logistics thay vì chỉ quan tâm đến sản phẩm, giá cả và mẫu mã.
Đáng chú ý, hoạt động kết nối đang mở rộng tới vùng nguyên liệu và nhà máy khi nhà mua hàng có xu hướng trực tiếp kiểm chứng năng lực sản xuất thay vì chỉ dựa vào danh mục hay trao đổi tại gian hàng. Điều này cho thấy một sản phẩm đạt chuẩn và tạo dựng được quan hệ lâu dài thì cần phải có một hệ thống duy trì chất lượng và sản lượng qua nhiều chu kỳ đơn hàng.
Cụ thể với thủy sản, năng lực cung ứng được đánh giá từ vùng nuôi, chất lượng nguyên liệu, quy trình kiểm soát đến khả năng đáp ứng sản lượng. Với nông sản, việc đáp ứng vùng nguyên liệu ổn định, tiêu chuẩn canh tác, kiểm soát chất lượng và khả năng truy xuất. Tất cả những yếu tố này đều là quy trình sản xuất để tạo ra sản phẩm và trở thành bộ phận trực tiếp góp phần năng cao lực cạnh tranh, tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Củng cố chuỗi cung ứng, tăng sức chống chịu
Thị trường với các yêu cầu về tiêu chuẩn đang thể hiện rõ khi các quy định liên quan đến Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon.(CBAM) hay khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đặt doanh nghiệp trước yêu cầu chuẩn bị dữ liệu và quy trình ngay từ khâu sản xuất, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ khi hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu.
![]() |
| Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản quy mô càng lớn đòi hỏi sức chống chịu mạnh hơn. |
Trong bối cảnh đó, truy xuất nguồn gốc trở thành một phần của năng lực sản xuất và quản trị. Dữ liệu phải phản ánh được nguồn gốc nguyên liệu, quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm, đồng thời đủ minh bạch để nhà nhập khẩu và cơ quan quản lý có thể kiểm chứng. Doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu phải chuyển từ quản lý từng công đoạn sang quản trị toàn bộ chuỗi.
Bên cạnh đó, đa dạng hóa thị trường cũng được xem là giải pháp quan trọng để giảm rủi ro. Hiện nhu cầu đối với thực phẩm và nông sản tại Trung Đông còn lớn, mở ra dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam. Các hệ thống phân phối tại UAE cũng đưa ra nhiều khuyến nghị về phương thức tiếp cận, diều này cho thấy cơ hội mở rộng thị trường của ngành vẫn đáng kể.
Tuy nhiên, mỗi khu vực có khẩu vị, hành vi tiêu dùng, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy cách đóng gói và kênh phân phối khác nhau. Do đó, doanh nghiệp khi tiếp cận thị trường phải hiểu được nhu cầu thị trường từ đó sẽ có những điều chỉnh sản phẩm, phương thức tiếp cận phù hợp với nhu cầu của thị trường..
Không chỉ vậy, hoạt động logistics cũng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh. Để không làm gia tăng phí vận chuyển, đảm bảo tuyến vận chuyển doanh nghiệp cần chủ động nhiều phương án vận chuyển, đa dạng hãng tàu, tuyến logistics, kho ngoại quan và trung tâm phân phối... Mục tiêu không chỉ ứng phó việc đứt gãy chuỗi cung ứng mà quan trọng hơn là duy trì cam kết giao hàng khi điều kiện vận tải quốc tế thay đổi. Đây là một thành tố thể hiện sức chống chịu của doanh nghiệp mà các nhà mua hàng ngày càng coi trọng.
Nhìn chung, biến động thương mại toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu phải tái cơ cấu theo hướng giảm phụ thuộc vào một thị trường, một nhóm khách hàng, một tuyến vận chuyển hoặc một nguồn nguyên liệu Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý khi xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đang tiến sát mốc 50 tỷ USD. Khi quy mô càng lớn thì tác động từ một mắt xích yếu trong chuỗi càng có thể lan rộng.
Do đó, củng cố chuỗi cung ứng cần được xem là chiến lược dài hạn. Doanh nghiệp phải làm chắc vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu truy xuất, nâng năng lực kiểm soát chất lượng, xây dựng nhiều phương án logistics và chủ động mở rộng thị trường. Quan trọng hơn, những năng lực này cần được chuyển hóa thành cam kết cụ thể với nhà mua hàng về chất lượng, sản lượng, thời gian giao hàng và tính minh bạch.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiến sát 50 tỷ USD mở ra dư địa tăng trưởng lớn, Song quy mô càng lớn đòi hỏi sức chống chịu mạnh hơn. Trong môi trường thương mại hiện nay khi tiêu chuẩn liên tục thay đổi, logistics tiềm ẩn rủi ro và thị trường không ngừng dịch chuyển thì việc đảm bảo chất lượng sản phẩm là chưa đủ mà còn cần nâng cao hơn nữa năng lực trong quy trình sản xuất mỗi đơn hàng mới. Đây được xem là nền tảng để doanh nghiệp giữ thị trường, duy trì tăng trưởng và nâng vị thế hàng Việt trên thị trường quốc tế..




