![]() |
| Ngành thủy sản cần chuyển mạnh mô hình tăng trưởng đáp ứng yêu cầu thị trường. |
Ngành thủy sản Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, song những thay đổi nhanh của thị trường quốc tế, yêu cầu phát triển xanh và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển. Trong bối cảnh đó, tăng sản lượng không còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh. Ngành thủy sản cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững.
Theo Hội Thủy sản Việt Nam, năm 2025, ngành thủy sản duy trì tăng trưởng ở các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu, với mức tăng khoảng 4,4%. Đến hết tháng 8/2026, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 6,95 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,94 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ; giá trị tăng thêm của ngành tăng 3,8%. Thủy sản hiện đóng góp khoảng 27-28% giá trị toàn ngành nông nghiệp.
Những kết quả này cho thấy sức chống chịu và dư địa phát triển của ngành vẫn rất lớn. Đáng chú ý, nuôi biển đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới. Giai đoạn 2021-2025, sản lượng nuôi biển tăng bình quân khoảng 8,4%/năm; riêng năm 2025 đạt khoảng 859.000 tấn, vượt mục tiêu đề ra. Giá trị xuất khẩu từ nuôi biển đạt khoảng 1,2 tỷ USD, trong đó riêng tôm hùm đạt khoảng 854 triệu USD.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng này cũng đi kèm những yêu cầu khắt khe hơn. Khi mở rộng quy mô nuôi trồng, khai thác và chế biến, ngành phải đồng thời kiểm soát môi trường, dịch bệnh, chất lượng sản phẩm, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Điều đó cho thấy mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia tăng sản lượng sẽ khó tạo ra hiệu quả kinh tế bền vững.
Thực tế thị trường xuất khẩu đang chuyển mạnh từ yêu cầu về sản phẩm sang yêu cầu đối với toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm. Chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, phát triển xanh, giảm phát thải, nguồn nguyên liệu và trách nhiệm xã hội ngày càng trở thành những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì thị trường. Do đó, năng lực cạnh tranh của thủy sản không chỉ được quyết định ở nhà máy chế biến mà bắt đầu từ con giống, thức ăn, vùng nuôi, môi trường nước và quy trình sản xuất.
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường và xu hướng trong sản xuất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần trở thành động lực cốt lõi của ngành thủy sản trong giai đoạn mới. Theo ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thủy sản vẫn còn phân tán, thiếu sự liên kết giữa các ngành và chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ với yêu cầu thực tiễn. Trong khi đó, các vấn đề về thủy văn, khí tượng, môi trường nước, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản có mối quan hệ chặt chẽ, đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể thay vì xử lý riêng lẻ.
Chuyển đổi số đang mở ra một hướng đi quan trọng. Trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học và dữ liệu có thể được ứng dụng xuyên suốt chuỗi giá trị, từ sản xuất giống, quản lý thức ăn, kiểm soát môi trường nước đến thu hoạch, chế biến và truy xuất nguồn gốc. Hệ thống dữ liệu được kết nối giúp doanh nghiệp và người sản xuất thuận tiện theo dõi chất lượng, nhận diện rủi ro, tối ưu chi phí và chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn riêng của từng thị trường. Điều này đã được thể hiện rõ khi công nghệ đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng định hình ngành thủy sản toàn cầu.Công nghệ không chỉ giúp nâng năng suất mà còn hỗ trợ kiểm soát môi trường, giảm chi phí, nâng chất lượng và tăng khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng quốc tế.
![]() |
| Ngành thủy sản dư địa phát triển vẫn còn lớn. Ảnh có sự hỗ trợ của AI |
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ngành thủy sản phải bắt đầu từ thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì sản xuất những gì mình có rồi tìm kiếm thị trường, ngành cần hướng tới sản xuất những gì thị trường cần. Doanh nghiệp phải xác định trước thị trường mục tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu về truy xuất, từ đó lựa chọn công nghệ và tổ chức sản xuất phù hợp ngay từ đầu chuỗi.
Để thực hiện điều này, ngành thủy sản cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và người sản xuất. Trong đó vai trò của Nhà nước trong kiến tạo chính sách, hạ tầng dữ liệu và môi trường thuận lợi cho đổi mới công nghệ; doanh nghiệp phải dẫn dắt bằng nhu cầu thị trường; các cơ sở nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán thực tiễn; còn người sản xuất là chủ thể tiếp nhận và ứng dụng công nghệ.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phát triển xanh và cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, ngành thủy sản cần chuyển mạnh mô hình tăng trưởng đáp ứng yêu cầu thị trường. Trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững thông qua khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đây là hướng đi cần thiết để thủy sản Việt Nam nâng sức cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường và tạo nền tảng phát triển bền vững trong giai đoạn mới.




