Trong bức tranh tài chính nông thôn Việt Nam, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) từ lâu đã giữ vai trò “mạch máu vi mô” – nơi dòng vốn nhỏ nhưng đúng chỗ có thể tạo ra thay đổi lớn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động theo hướng thực chất hơn.

Bức tranh tăng trưởng ổn định
Số liệu cập nhật từ Báo cáo Ngân hàng Nhà nước Khu vực 14 (gồm TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long), hệ thống 49 QTDND đang hoạt động trên 128 xã, phường với tổng nguồn vốn hơn 4.445 tỷ đồng, tăng 2,46% so với năm trước. Vốn điều lệ toàn hệ thống đạt hơn 236 tỷ đồng, tăng 7,38% – một mức tăng tương đối tích cực trong bối cảnh khó khăn chung.
Điểm đáng chú ý nằm ở phía sử dụng vốn. Tổng dư nợ cho vay chỉ đạt khoảng 3.229 tỷ đồng và giảm 1,67% so với cuối năm 2024. Điều này phản ánh một thực tế dòng vốn đang được tái cơ cấu nâng cao chất lượng hoạt động.
Tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 (tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh) có 70 QTDND và 4 phòng giao dịch của QTDND đang hoạt động tại 111 xã, phường thuộc 02 tỉnh (Đồng Tháp có 33 QTDND hoạt động tại 52 xã phường, Tây Ninh có 37 QTDND hoạt động tại 59 xã phường; hơn 878 nhân viên), thu hút hơn 112.373 thành viên tham gia hoạt động. Có 1 QTDND bị kiểm soát đặc biệt từ năm 2015 đang chờ giải quyết phá sản, đã đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho tạm ngừng các báo cáo, không phát sinh số liệu.
Tình hình hoạt động của các QTDND cuối tháng 3/2026 so với cuối năm 2025, tổng nguồn vốn hoạt động đạt 7.812 tỷ đồng, giảm 171 tỷ đồng, giảm 2,15%. Trong đó, vốn điều lệ đạt 344 tỷ đồng, tăng 21 tỷ đồng, tăng 6,46%. Về vốn điều lệ, có 30 QTDND có vốn điều lệ trên 3 tỷ đồng, 17 QTDND trên 5 tỷ đồng, 5 Quỹ trên 10 tỷ đồng và 1 Quỹ trên 20 tỷ đồng.
Về tổng nguồn vốn huy động đạt 6.846 tỷ đồng, giảm 164 tỷ, giảm 2,34% và tổng dư nợ tín dụng là đạt 5.661 tỷ đồng, tăng 24 tỷ, tăng 0,42% (Tây Ninh giảm 2 tỷ đồng, giảm 0,06%; Đồng Tháp giảm 21 tỷ đồng, giảm 0,9%). Nợ xấu 94 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,66%, tăng 0,14% (Đồng Tháp tỷ lệ nợ xấu 0,95%, Tây Ninh tỷ lệ nợ xấu 1,15%).
Còn ở Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15 (gồm tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau) có 51 QTDND đang hoạt động, 1 QTDND đang thực hiện thanh lý theo quy định; 1 QTDND đang thực hiện giám sát tăng cường, áp dụng biện pháp can thiệp sớm theo quy định và 1 QTDND đang thực hiện giám sát tăng cường theo quy định.
Vốn chủ sở hữu của hệ thống các QTDND trên địa bàn là 5.464 tỷ đồng, giảm 1,14% so cuối năm 2025 (tương ứng 63 tỷ đồng). Hiện 51/51 QTDND đáp ứng quy định về mức vốn pháp định. Tổng nguồn vốn huy động đạt 4.348 tỷ đồng, giảm 2,84% so cuối năm 2025 (tương ứng 127 tỷ đồng). Tổng dư nợ cho vay đạt 4.390 tỷ đồng, giảm 0,05% so cuối năm 2025 (tương ứng 2 tỷ đồng). Tổng nợ xấu là 48 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,09%.
Trong đó địa bàn An Giang (42 QTDND đang hoạt động) nguồn vốn huy động đạt 3.726 tỷ đồng, chiếm 85,69% tổng nguồn vốn huy động khối QTDND tại khu vực, giảm 3,22% so cuối năm 2025 (tương ứng 124 tỷ đồng). Dư nợ đạt 3.774 tỷ đồng, chiếm 85,97% tổng dư nợ khối QTDND tại khu vực, tăng 0,27% so cuối năm 2025 (tương ứng 10 tỷ đồng). Nợ xấu là 42 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,11%.
Còn địa bàn tỉnh Cà Mau (9 QTDND đang hoạt động) có nguồn vốn huy động đạt 622 tỷ đồng, chiếm 14,31% tổng nguồn vốn huy động khối QTDND tại khu vực, giảm 0,48% so cuối năm 2025 (tương ứng 3 tỷ đồng). Dư nợ đạt 616 tỷ đồng, chiếm 14,03% tổng dư nợ khối QTDND tại khu vực, giảm 1,91% so cuối năm 2025 (tương ứng 12 tỷ đồng). Nợ xấu là 6 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,97%.
Những con số này cho thấy một thực tế hệ thống QTDND vẫn giữ được “độ an toàn”, nhưng hiệu quả sử dụng vốn đang chịu áp lực rõ rệt.
Hiệu quả hoạt động dẫn vốn cho nền kinh tế địa phương
Một điểm sáng của hệ thống là phần lớn QTDND có lãi. Tại Ngân hàng Nhà nước khu vực 14, có tới 46/49 quỹ hoạt động có lợi nhuận. Đây là chỉ dấu tích cực về năng lực vận hành, lợi nhuận này chủ yếu đến từ việc kiểm soát chi phí và thu hẹp rủi ro, thay vì mở rộng tín dụng hiệu quả.
Trường hợp QTDND An Hữu (Đồng Tháp) là ví dụ điển hình. Năm 2025, tổng nguồn vốn đạt hơn 85 tỷ đồng, dư nợ hơn 52 tỷ đồng – nhưng dư nợ có xu hướng giảm do người dân thận trọng vay vốn. Lợi nhuận đạt khoảng 860 triệu đồng – mức ổn định.
Tương tự, tại nhiều QTDND, chiến lược “thu hẹp để an toàn” đang được ưu tiên, giảm cho vay lĩnh vực rủi ro, tăng thu hồi nợ, kiểm soát chặt tín dụng. Điều này giúp hệ thống tránh được cú sốc, nhưng đồng thời cũng làm giảm vai trò dẫn vốn cho nền kinh tế địa phương.
Dù còn nhiều thách thức, hệ thống QTDND vẫn xuất hiện những điểm sáng đáng chú ý. QTDND TP. Mỹ Tho là ví dụ điển hình khi đạt mức tăng trưởng mạnh vốn huy động tăng gần 78%, dư nợ tăng hơn 54%, lợi nhuận tăng hơn 7 lần. Thành công này đến từ quản trị linh hoạt, điều hành sát thực tế địa phương và kiểm soát tốt nợ xấu nhờ ứng dụng công nghệ trong quản lý.
Điểm chung của các mô hình hiệu quả là không chạy theo quy mô, mà tập trung vào chất lượng quản trị và hiểu rõ khách hàng – điều mà nhiều QTDND khác vẫn còn hạn chế.
Nâng cao hiệu quả cần cách tiếp cận mới
Từ thực tiễn số liệu và vận hành, có thể thấy nâng cao hiệu quả hệ thống QTDND tại ĐBSCL không thể chỉ dừng ở các giải pháp truyền thống. Cần một cách tiếp cận toàn diện hơn. TS Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 đề xuất giải pháp sau:
Thứ nhất, chuyển từ “tăng trưởng tín dụng” sang “tối ưu hóa vốn”. Việc dư nợ giảm trong khi nguồn vốn vẫn tăng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Các QTDND cần tái cơ cấu danh mục cho vay, tập trung vào lĩnh vực có khả năng sinh lời và ít rủi ro hơn, đồng thời phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp chu kỳ nông nghiệp.
Thứ hai, nâng cấp năng lực quản trị – điểm yếu cốt lõi. Nhiều rủi ro trong hệ thống không đến từ khách hàng, mà từ chính nội tại, chưa tách bạch rõ quản trị – điều hành, năng lực cán bộ còn hạn chế. Thiếu hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, việc chuẩn hóa quản trị theo hướng chuyên nghiệp là điều kiện tiên quyết.
Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn. Phụ thuộc 88% vào tiền gửi dân cư là rủi ro dài hạn. Hệ thống cần tăng vốn điều lệ, mở rộng thành viên và tận dụng hỗ trợ từ Ngân hàng Hợp tác xã.
Thứ tư, kiểm soát nợ xấu từ gốc. Kinh nghiệm từ các QTDND hoạt động hiệu quả cho thấy thẩm định tín dụng là “cửa chặn rủi ro” quan trọng nhất. Việc “không hạ chuẩn tín dụng, không chạy theo tăng trưởng” cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt, thay vì khẩu hiệu.
Thứ năm, gắn hoạt động tín dụng với phát triển cộng đồng. Điểm khác biệt của QTDND so với ngân hàng thương mại là tính cộng đồng. Những mô hình như An Hữu cho thấy, khi QTDND gắn với an sinh xã hội, niềm tin thành viên được củng cố – và đó chính là “tài sản vô hình” lớn nhất.
Vai trò điều hành tăng giám sát nhưng phải đúng trọng tâm. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các khu vực đã và đang tăng cường thanh tra, giám sát, phân loại quỹ và xử lý các đơn vị yếu kém.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống QTDND mang tính đặc thù, việc quản lý cần chuyển từ “kiểm soát tuân thủ” sang “định hướng hiệu quả” hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, cảnh báo sớm rủi ro và khuyến khích mô hình hoạt động tốt.
Hệ thống QTDND tại ĐBSCL đang đứng trước một ngưỡng chuyển đổi quan trọng. Những con số tăng trưởng ổn định không còn đủ để đảm bảo tương lai nếu hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tín dụng không được cải thiện. Trong một môi trường kinh tế nhiều biến động, điều quyết định không phải là “Quỹ lớn hay nhỏ”, mà là quản trị có minh bạch hay không, tín dụng có đi đúng chỗ hay không, thành viên có còn tin tưởng hay không. Và có lẽ, điều mà những người làm chính sách, quản lý và cả người trong cuộc đều hiểu rõ nâng cao hiệu quả QTDND không chỉ là câu chuyện tài chính – đó là câu chuyện giữ niềm tin ở nông thôn.

