A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Mô hình tài chính tích hợp thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam

Đổi mới sáng tạo từ lâu đã được thừa nhận là động lực cho sự phát triển bền vững và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, việc thiếu một mô hình tài chính phù hợp đang trở thành rào cản đối với ý tưởng sáng tạo đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Nghiên cứu này tập trung phân tích sự hạn chế của các mô hình tài chính truyền thống, các cơ sở lý luận để đề xuất mô hình tài chính tích hợp cho đổi mới sáng tạo khu vực tư nhân dựa trên 3 trụ cột chính: tài khóa, tín dụng và đầu tư, nhằm tạo ra một hệ sinh thái tài chính đồng bộ, giúp khu vực tư nhân bứt phá trong kỷ nguyên số.

Đinh Thanh Nhàn

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Marketing; Email: [email protected]

Huỳnh Thị Thu Sương

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Võ Thái Huy Cường

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tài chính - Marketing; Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đổi mới sáng tạo (ĐMST) giúp doanh nghiệp tạo ra sản phẩm khác biệt, cải thiện thị phần và lợi nhuận trong dài hạn (Reyes-Gómez và cộng sự, 2025). Nhưng để đạt được những thành quả đó, doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro ở giai đoạn đầu. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tài chính là biến dự báo mạnh nhất cho việc áp dụng công nghệ mới (Cirera và cộng sự, 2021). Tại Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong năm 2023, khu vực kinh tế tư nhân tạo ra doanh thu 21.091,40 nghìn tỷ đồng và tạo việc làm cho 9.271,30 nghìn lao động (chiếm lần lượt 58,12% và 59,5% toàn nền kinh tế) trong năm 2023 (NSO, 2023). Tuy nhiên, tỷ trọng các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào hoạt động ĐMST và chuyển đổi số còn khiêm tốn (VCCI, 2025), ví dụ tỷ lệ đổi mới sản phẩm/dịch vụ thấp; đầu tư chi cho ĐMST, chuyển đổi số, khoa học công nghệ và hợp tác khoa học công nghệ còn hạn chế.

Một trong những nguyên nhân là rào cản từ sức ép tài chính và chi phí đầu tư, khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế. Những công cụ tài chính như: thuế, ngân sách, tín dụng hiện đang hoạt động rời rạc, thiếu tính liên thông và chưa hình thành được một hệ sinh thái đồng bộ. Nhận định này đặt câu hỏi cho việc kết nối các nguồn lực tài chính công và tư thành một chỉnh thể thống nhất, thúc đẩy ĐMST cho khu vực này. Do đó, nghiên cứu tập trung phân tích tính cấp thiết và đề xuất mô hình tài chính tích hợp (TCTH) nhằm tăng cường kết nối các nguồn lực tài chính công và tư, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo (ĐMST) trong khu vực kinh tế tư nhân.

ĐẶC THÙ TÀI CHÍNH CỦA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CƠ CHẾ TÀI TRỢ TRUYỀN THỐNG TẠI VIỆT NAM

Đặc thù và nhu cầu vốn theo chu kỳ đổi mới sáng tạo

ĐMST trải qua nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu và phát triển đến thương mại hóa, mở rộng và trưởng thành, với nhu cầu vốn và mức độ rủi ro khác nhau (Aghion và cộng sự, 2008).

Ở giai đoạn nghiên cứu và phát triển, kết quả có tính bất định cao, khó dự báo lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn dài, khiến khu vực tư nhân có xu hướng đầu tư dưới mức cho nghiên cứu cơ bản (Aghion và cộng sự, 2008; Feng và cộng sự, 2022).

Giai đoạn thử nghiệm và hoàn thiện đòi hỏi vốn cho nhân lực, thiết bị, phần mềm, phát triển mẫu thử và thử nghiệm thực tế. Do chi phí lớn và thời gian kéo dài, vốn ưu đãi, vốn thương mại và vốn đầu tư mạo hiểm, đặc biệt từ các tập đoàn và doanh nghiệp lớn, có vai trò quan trọng trong việc thu hẹp khoảng trống tài chính và hỗ trợ phát triển công nghệ mới (Eurostat, 2018; NIC, 2024b).

Trong giai đoạn thương mại hóa và mở rộng, nhu cầu vốn tăng mạnh để tổ chức sản xuất quy mô lớn, phát triển hệ thống phân phối, marketing, thương hiệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Vì vậy, các khoản trợ cấp ban đầu thường không đủ đáp ứng nhu cầu vốn ở giai đoạn này (Teece, 2010).

Đến giai đoạn trưởng thành, doanh nghiệp có dòng tiền ổn định hơn, có thể sử dụng vốn tự có và lợi nhuận giữ lại, đồng thời tiếp cận tín dụng ngân hàng và thị trường vốn để duy trì hoạt động và tái đầu tư cho ĐMST (Romero Alvarez và cộng sự, 2025).

Sự khác biệt về nhu cầu vốn và rủi ro giữa các giai đoạn cho thấy sự cần thiết của mô hình tài chính tích hợp (TCTH), kết nối đa dạng nguồn vốn nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính xuyên suốt chu kỳ ĐMST.

Hạn chế của mô hình tài chính truyền thống tại Việt Nam

Thông thường, hoạt động ĐMST của doanh nghiệp thường được tài trợ qua các kênh, như: vốn tự có; vốn vay ngân hàng thương mại; và khoản trợ cấp nhỏ lẻ từ ngân sách nhà nước (Kagere và cộng sự, 2025), tuy nhiên, các nguồn vốn truyền thống này bộc lộ những khiếm khuyết.

Thứ nhất, giới hạn về nguồn vốn nội bộ. Khảo sát của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam chỉ ra rằng, xác suất tiếp cận được nguồn vốn tín dụng để mua sắm máy móc và phần mềm công nghệ là rất thấp, chỉ đạt khoảng 20% đối với doanh nghiệp nhỏ và 30% đối với doanh nghiệp vừa (Cirera và cộng sự, 2021). Điều này đồng nghĩa với việc có tới 70%-80% doanh nghiệp phải dựa hoàn toàn vào nguồn vốn tự có tích lũy để đổi mới. Nghiên cứu của VCCI (2025) cho thấy, có tới 55,64% tổng số doanh nghiệp được khảo sát đánh giá thiếu vốn nội bộ là rào cản từ “quan trọng” (39,22%) đến “rất quan trọng” (16,42%) cho đầu tư ĐMST. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp coi đây là “Rào cản rất quan trọng” chiếm tới 16,42%-mức cao nhất trong toàn bộ các yếu tố được khảo sát, vượt xa rào cản về việc khó tiếp cận tín dụng ngân hàng (11,92%) hay khó tìm đối tác (9,02%). Theo Lý thuyết Trật tự Phân hạng, doanh nghiệp luôn ưu tiên sử dụng dòng tiền tự tích lũy để tài trợ cho các ý tưởng mới nhằm giảm thiểu chi phí phát hành và tránh áp lực kiểm soát từ bên ngoài. Tuy nhiên, do phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, tích lũy thặng dư mỏng, nên khi nguồn vốn nội sinh cạn kiệt, toàn bộ hoạt động R&D và ứng dụng công nghệ bị đình trệ ngay từ giai đoạn sơ khởi mà không có nguồn tài chính thay thế kịp thời bù đắp.

Thứ hai, sự lệch pha giữa tín dụng ngân hàng thương mại và đặc thù của ĐMST. Báo cáo của OECD (2025) nhấn mạnh 3 đặc tính cốt lõi của ĐMST khiến các ngân hàng thương mại e ngại: tỷ trọng tài sản vô hình cao, mức độ rủi ro công nghệ lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam nhưng lại là công cụ kém tương thích nhất với các dự án ĐMST trong giai đoạn sơ khởi. Theo VCCI (2025), tiếp cận vốn tiếp tục là điểm nghẽn mang tính cấu trúc khi hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào tài sản bảo đảm khi có tới 75,5% doanh nghiệp khẳng định không thể vay vốn nếu không có tài sản thế chấp và 93,5% các khoản vay tại Việt Nam đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm-mức cao vượt trội so với mức bình quân toàn cầu là 68,3%. Khảo sát cũng cho thấy “Khó vay vốn” được 44,52% doanh nghiệp xác nhận là rào cản quan trọng đến rất quan trọng đối với hoạt động ĐMST (trong đó có tới 11,92% doanh nghiệp coi đây là rào cản rất quan trọng-mức cao nhất trong tất cả các rào cản từ môi trường bên ngoài).

Thứ ba, sự hạn chế về quy mô của các quỹ tài chính công. Nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho ĐMST tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ sự phân mảnh và kém hiệu quả. Về quy mô, 2 quỹ tài chính nhà nước cấp quốc gia trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ có mức vốn rất khiêm tốn: Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) được thành lập với vốn điều lệ ban đầu chỉ vỏn vẹn 200 tỷ đồng, trong khi Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (NATIF) lũy kế mới chỉ huy động được 782 tỷ đồng từ khu vực doanh nghiệp cho các dự án đang triển khai (Đỗ và cộng sự, 2024). Về khả năng lan tỏa, các chính sách tài chính công vẫn chưa tiếp cận được số đông doanh nghiệp tư nhân: khảo sát của Cirera và cộng sự (2021) ghi nhận, chỉ có 3,7% doanh nghiệp vừa và nhỏ từng thụ hưởng các chương trình trợ cấp công nghệ của Nhà nước. Tương tự, dữ liệu mới nhất từ Báo cáo Kinh tế Tư nhân Việt Nam (VCCI, 2025) cũng chỉ ra, chỉ 5,9% doanh nghiệp tư nhân nhận được hỗ trợ tài chính công cho hoạt động KHCN, ĐMST và chuyển đổi số.

Thứ tư, thị trường vốn mạo hiểm sơ khai và thiếu hụt các công cụ tài chính số phi truyền thống. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST giai đoạn đầu, Quỹ đầu tư mạo hiểm và mạng lưới nhà đầu tư thiên thần là kênh dẫn vốn sống còn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thị trường này còn phát triển rất hạn chế; thống kê cho thấy, bình quân mỗi năm cả nước có chưa tới 70 doanh nghiệp nhận được vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, một con số thấp so với các hệ sinh thái phát triển như Mỹ, Trung Quốc hay Ấn Độ (Đỗ và cộng sự, 2024). Bên cạnh đó, thị trường vốn mạo hiểm Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các định chế tài chính quốc tế. Báo cáo của NIC (2024a) chỉ ra rằng, trong năm 2023, các quỹ đầu tư nước ngoài chiếm tới 78,8% tổng số quỹ hoạt động tại Việt Nam. Thị trường này cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ các biến động kinh tế toàn cầu khi tổng giá trị vốn đầu tư mạo hiểm năm 2023 chỉ đạt 529 triệu USD, sụt giảm tới 63% so với mức đỉnh 1.442 triệu USD năm 2021. Sự áp đảo của các nhà đầu tư ngoại cùng sự thiếu vắng các quỹ nội địa quy mô lớn khiến nguồn cung vốn mạo hiểm tại Việt Nam thiếu tính tự chủ và dễ bị tổn thương trước các chu kỳ thắt chặt dòng vốn quốc tế.

Thực trạng trên chứng minh, mô hình tài chính truyền thống đơn lẻ đã hết dư địa, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang Mô hình TCTH có khả năng kết nối đa chủ thể và phân bổ rủi ro đồng bộ.

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH TÀI CHÍNH TÍCH HỢP CHO ĐỔI MỚI SÁNG TẠO KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM

Khái niệm mô hình tài chính tích hợp

Mô hình TCTH được định nghĩa là việc sử dụng có tính chiến lược nguồn tài chính phát triển (nguồn tài chính phát triển là các nguồn tài chính công và tư được triển khai với mục tiêu phát triển) nhằm huy động thêm nguồn tài chính cho phát triển bền vững tại các nước đang phát triển (OECD, 2025). Mục tiêu của tài chính tích hợp là sử dụng nguồn vốn phát triển để hấp thụ rủi ro lớp đầu tiên, tạo ra một lớp đệm an toàn để thu hút các nhà đầu tư tư nhân vốn rất e ngại rủi ro kỹ thuật cao (Christiansen, 2021). Điều này giúp chuyển đổi sự không chắc chắn của ĐMST thành một rủi ro có thể tính toán và quản lý được.

Lý thuyết nền

Mô hình TCTH vận hành dựa trên sự giao thoa của 3 hệ thống lý thuyết cốt lõi. Khác với quan điểm truyền thống chỉ tập trung vào thu-chi để cung ứng hàng hóa công thuần túy, lý thuyết Tài chính công hiện đại định vị Nhà nước là chủ thể kiến tạo và định hình thị trường (Mazzucato, 2011). Trong ĐMST, tài chính công đóng vai trò cung cấp vốn mồi và hấp thụ rủi ro lớp đầu, giúp khắc phục thất bại thị trường và kích hoạt dòng vốn từ khu vực tư nhân cùng tham gia (Szücs, 2020).

Lý thuyết Thích ứng chính sách bác bỏ tư duy quản trị đơn lẻ, cố định vốn dễ trở thành rào cản đối với các lĩnh vực nhiều bất định (Howlett và Rayner, 2007), đặt nền móng cho việc phối hợp đồng bộ và linh hoạt các công cụ (thuế, tín dụng, tài trợ trực tiếp). Đây là cơ sở để mô hình TCTH xóa bỏ sự phân mảnh quản lý giữa các bộ ngành, đảm bảo dòng vốn liền mạch theo từng giai đoạn phát triển của dự án ĐMST.

Mô hình Triple Helix khẳng định, ĐMST là kết quả tương tác phi tuyến tính giữa 3 chủ thể: Viện/Trường (sản xuất tri thức), Doanh nghiệp (thương mại hóa) và Chính phủ (điều tiết, cung ứng khung thể chế và vốn mồi) (Leydesdorff, 2000). Mô hình TCTH cụ thể hóa lý thuyết này bằng cách tích hợp thêm hệ thống trung gian tài chính (ngân hàng, quỹ mạo hiểm) vào mạng lưới, tạo thành một hệ sinh thái tuần hoàn vốn khép kín và bền vững.

Mô hình tài chính tích hợp cho đổi mới sáng tạo khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam

Dựa trên các phân tích trên, nghiên cứu đề xuất mô hình TCTH lấy khu vực tư nhân làm trung tâm, với 3 trụ cột liên thông.

Trụ cột thứ nhất, chính sách tài khóa, chuyển từ cơ chế cấp phát dàn trải sang cơ chế đặt hàng nhiệm vụ ĐMST. Nhà nước chi ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho các dự án ĐMST có tiềm năng thương mại hóa cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực xanh, chuyển đổi số. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp linh hoạt, cho phép khấu trừ chi phí R&D vào thu nhập chịu thuế với tỷ lệ cao để khuyến khích doanh nghiệp tự bỏ vốn đầu tư. Trụ cột này giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn về vốn ban đầu, giảm thiểu rủi ro và tạo động lực cho sự tham gia của các thành phần khác trên thị trường tài chính.

Trụ cột thứ hai liên quan đến chính sách tín dụng, nhằm khơi thông dòng chảy vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại, tạo đòn bẩy vốn quy mô lớn cho giai đoạn sản xuất thử nghiệm là cơ chế bảo lãnh rủi ro tín dụng. Ở trụ cột này, Nhà nước không cho vay trực tiếp mà đóng vai trò thiết lập các quỹ bảo lãnh tín dụng chuyên biệt cho dự án ĐMST. Nếu dự án thất bại, quỹ này sẽ chi trả một phần khoản nợ gốc cho ngân hàng. Điều này sẽ giúp các ngân hàng mạnh dạn giải ngân cho các dự án không có tài sản thế chấp. Đồng thời các gói vay ưu đãi cho doanh nghiệp đạt các mốc ĐMST cụ thể sẽ được triển khai nhằm giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính trong dài hạn.

Trụ cột thứ ba, đầu tư tư nhân, với sự tham gia của thị trường vốn mạo hiểm. Lúc này, Nhà nước và các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần cùng rót vốn vào một doanh nghiệp ĐMST. Sự có mặt của vốn nhà nước không chỉ cung cấp thêm tài chính, mà còn là sự bảo chứng về uy tín cho doanh nghiệp. Đồng thời, một cơ chế thoái vốn linh hoạt cho phép Nhà nước thoái vốn bằng cách chuyển nhượng lại cổ phần cho khu vực tư nhân sau khi dự án đạt độ chín muồi thương mại. Nguồn vốn thu hồi sẽ được đưa quay lại quỹ để tái đầu tư cho các thế hệ doanh nghiệp tiếp theo, tạo ra chu kỳ tự tái sản xuất bền vững cho hệ sinh thái. Thêm vào đó, các hình thức huy động vốn mới như: gọi vốn cộng đồng hay các công cụ tài chính số trong một môi trường có kiểm soát được thí điểm, nhằm đa dạng hóa sự lựa chọn cho doanh nghiệp.

Tính khả thi của mô hình TCTH tại Việt Nam hiện được bảo chứng bởi những bước ngoặt thể chế quan trọng, như Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (cho phép ngân sách nhà nước góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm); Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025 (đặt ĐMST ngang hàng với KHCN và thiết lập cơ chế thử nghiệm sandbox); cùng Quyết định số 2731/QĐ-BTC có hiệu lực từ ngày 29/9/2026 của Bộ Tài chính phê duyệt Kế hoạch nghiên cứu khoa học và công nghệ 5 năm của ngành Tài chính giai đoạn 2026- 2030. Để mô hình vận hành thông suốt, yếu tố then chốt là cơ chế điều phối liên ngành giữa Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua một hệ thống dữ liệu dùng chung, giúp giám sát hiệu quả dòng vốn và tránh tình trạng hỗ trợ chồng chéo hoặc bỏ sót dự án.

KẾT LUẬN

Xây dựng mô hình TCTH cho ĐMST khu vực tư nhân là yêu cầu cần thiết để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn tới. Có thể thấy rằng, TCTH hỗ trợ ĐMST là hệ thống các công cụ quản trị rủi ro và kết nối lợi ích. Sự chuyển dịch từ tư duy tài chính truyền thống xin cho sang mô hình tích hợp kết nối - điều phối - kích hoạt sẽ giúp tối ưu hóa nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp, đồng thời khơi thông được nguồn lực khổng lồ từ khu vực tư nhân. Rào cản về rủi ro và lòng tin giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp chỉ có thể được giải quyết thông qua một khung pháp lý minh bạch và sự can thiệp có chiến lược của tài chính công hiện đại. Bài báo hy vọng cung cấp thêm những luận cứ khoa học để các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng thể trong việc thực thi các giải pháp TCTH.

Tài liệu tham khảo:

1. Aghion, P., Dewatripont, M., & Stein, J. C. (2008). Academic freedom, private-sector focus, and the process of innovation.

The RAND Journal of Economics, 39(3), 617-635.

2. Christiansen, J. (2021). Fixing fictions through blended finance: The entrepreneurial ensemble and risk interpretation in

the Blue Economy. Geoforum, 120, 93-102.

3. Cirera, X., Comin, D., Cruz, M., Lee, K. M., & Martins-Neto, A. S. (2021). Firm-level technology adoption in Vietnam. World

Bank Washington, DC.

4. Đỗ, H. L., Trần, T. V. H., Lại, T. T. L., Đặng, P. N., & Nguyễn, N. M. (2024). Nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học

công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 322, 40-49.

5. Eurostat. (2018). The Measurement of Scientific, Technological and Innovation Activities Oslo Manual 2018 Guidelines for

Collecting, Reporting and Using Data on Innovation: Guidelines for Collecting, Reporting and Using Data on Innovation.

OECD publishing.

6. Feng, S., Zhang, R., & Li, G. (2022). Environmental decentralization, digital finance and green technology innovation.

Structural Change Economic Dynamics, 61, 70-83.

7. Howlett, M., & Rayner, J. (2007). Design principles for policy mixes: Cohesion and coherence in ‘new governance

arrangements’. Policy society, 26(4), 1-18.

8. Kagere, B. R., Mwebaze, T., Kilimani, N., & Nair, R. G. (2025). Competition, access to finance, and manufacturing firm

innovation behavior. Development and Sustainability in Economics and Finance, 100077.

9. Leydesdorff, L. (2000). The triple helix: an evolutionary model of innovations. Research Policy, 29(2), 243-255.

10. Mazzucato, M. (2011). The entrepreneurial state. Soundings, 49(49), 131-142.

11. NIC. (2024a). Báo cáo đổi mới sáng tạo và đầu tư công nghệ Việt Nam 2024.

12. NIC. (2024b). Sổ tay về Đổi mới sáng tạo. https://nic.gov.vn/a/151956/So-tay-ve-Doi-moi-sang-tao-trong-doanh-nghiep/

13. NSO. (2023). Số liệu thống kê. https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/

14. OECD. (2025). OECD DAC Blended Finance Guidance 2025. https://www.oecd.org/en/publications/oecd-dac-blendedfinance-guidance-2025_e4a13d2c-en.html

15. Reyes-Gómez, J. D., López, P., & Rialp, J. (2025). The relationship between strategic orientations and firm performance

and the role of innovation: a meta-analytic assessment of theoretical models. International Journal of Entrepreneurial

Behavior Research, 31(2-3), 810-845.

16. Romero Alvarez, Y. P., Salas-Navarro, K., Martínez, L. B., & Zamora-Musa, R. (2025). Financing innovation in SMEs: a

systematic review of financing channels. International Journal of Innovation Science, 18(2), 524-563.

17. Szücs, F. (2020). Do research subsidies crowd out private R&D of large firms? Evidence from European Framework

Programmes. Research Policy, 49(3), 103923.

18. Teece, D. (2010). Business models, business strategy and innovation. Long Range Planning, 43(2-3), 172-194.

19. VCCI. (2025). Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.

Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 3 tháng 10/2026
Đinh Thanh Nhàn, Huỳnh Thị Thu Sương, Võ Thái Huy Cường

Các tin khác

Tin nổi bật